- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 145 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2023/DS-ST. Ngày: 28/8/2023 V/v trAh chấp về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DAH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Huỳnh Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Nhiên
- Bà Đỗ Thị Thu Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Hàm Thuận Bắc , tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận
Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
55/2023/TLST – DS ngày 22 tháng 3 năm 2023, về việc: “TrAh chấp về hợp đồng
vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-DS ngày
20/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-DS ngày 09/8/2023, giữa
các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ: Số 77 phố T, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ QuAg H, chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn A, chức vụ: Giám đốc Ngân
hàng TMCP S chi nhánh Bình Thuận. Theo văn bản ủy quyền số 07/2022/UQ-
HĐQT ngày 10/01/2022 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP S.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Ngô Duy P, chức vụ: chuyên viên xử
lý nợ. Theo văn bản ủy quyền số 03/2023/UQ-SHB ngày 15/02/2023.
Bị đơn: Ông Lâm Vĩnh P1, sinh năm 1985 và bà Bùi Thị Tuyết D, sinh năm
1983; cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt ông P; vắng mặt ông P1, bà D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/02/2023, bản tự khai và trong quá trình giải
quyết, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S do ông Ngô Duy P đại diện theo ủy quyền lại trình bày:
Ngày 14/3/2019, Ngân hàng TMCP S, chi nhánh Bình Thuận đã ký hợp
đồng cấp hạn mức tín dụng số 083/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 với ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D số tiền vay 4.200.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng (từ ngày 14/3/2019 đến ngày 14/3/2020), mục đích vay vốn bổ sung vốn mua bán hải sản, lãi suất cho vay trong hạn kỳ đầu tiên là 12,1%/năm, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm giải ngân, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 06 tháng trả lãi sau cao nhất khách hàng cá nhân của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng với (+) biên độ cho vay là 4,5%/năm. Ngoài ra, nếu bên vay không thAh toán lãi đúng hạn, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất chậm trả quy định tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không vượt quá 10%/ năm và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi; nếu bên vay bị chậm thAh toán nợ gốc đến hạn thì phải trả lãi trên dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm nợ gốc bị quá hạn thAh toán và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tế chậm trả gốc. Việc trả nợ gốc vào cuối kỳ và trả nợ lãi vào ngày 25 hàng tháng.
Tài sản thế chấp đảm bảo nợ vay: Là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất của ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D theo hợp đồng thế chấp số 089/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 14/3/2019 để đảm bảo vay vốn tại Ngân hàng TMCP S theo hợp đồng tín dụng số 083/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 14/3/2019. Thông tin tài sản như sau:
- Quyền sử dụng đất tọa lạc tại phường Xuân A, thành phố PhA Thiết, tỉnh
Bình Thuận, thửa đất số 36, tờ bản đồ số 35, diện tích 100m2, hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng đất lâu dài, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE664766, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS02138 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30/12/2016, cập nhật biến động ngày 13/3/2019.
- Tài sản gắn liền với đất: Loại tài sản nhà ở riêng lẻ diện tích xây dựng
80m2, diện tích sàn 161m2, hình thức sở hữu riêng, nhà cấp 3 tọa lạc tại phường
Xuân A, thành phố PhA Thiết, tỉnh Bình Thuận thuộc Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE664766, số vào
sổ cấp giấy chứng nhận CS02138 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận
cấp ngày 30/12/2016, cập nhật biến động ngày 13/3/2019.
Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được Văn phòng công chứng Trương
Văn Cương; địa chỉ số 75 đường Trần Hưng Đạo, phường Phú Thủy, thành phố
PhA Thiết, tỉnh Bình Thuận chứng nhận ngày 14/3/2019 và được đăng ký giao
dịch bảo đảm ngày 15/3/2019 tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai PhA Thiết
theo quy định pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị
Tuyết D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như hợp đồng đã ký kết, đã vi phạm
nghĩa vụ thAh toán tiền vay, mặc dù Ngân hàng TMCP S liên hệ nhắc nhở, nhưng
ông P1 và bà D cố tình trốn tránh không thực hiện. Nay Ngân hàng TMCP S khởi
kiện yêu cầu ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D phải thAh toán cho Ngân
hàng TMCP S số tiền nợ tính đến ngày 28/8/2023 tổng cộng là 6.831.394.441đồng,
trong đó nợ gốc là 4.200.000.000đồng, nợ lãi gồm: Lãi trong hạn là
189.989.559đồng, lãi quá hạn là 2.403.482.287đồng, lãi chậm trả 37.922.595đồng
và tiền lãi phát sinh tương ứng theo lãi suất quá hạn được quy định theo hợp đồng
cấp hạn mức tín dụng sau ngày 28/8/2023 cho đến khi ông P1, bà D thAh toán hết
nợ.
Trường hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Lâm Vĩnh P1 và bà
Bùi Thị Tuyết D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thAh toán
trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu cơ quA có thẩm quyền
phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 089/2019/HĐTC-
CN/SHB.132100 ngày 14/3/2019 để thAh toán nợ của ông P1 và bà D cho Ngân
hàng TMCP S.
Bị đơn ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D vắng mặt nên không có bản
khai tại hồ sơ.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông P1, bà D đều
vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 203 và Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự,
Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, ông Ngô Duy P là người đại diện theo uỷ quyền lại của
nguyên đơn vẫn giữ nguyên quA điểm yêu cầu ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị
Tuyết D phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tính đến ngày 28/8/2023 tổng cộng là 6.831.394.441đồng, trong đó nợ gốc là 4.200.000.000đồng, nợ lãi gồm: Lãi trong hạn là 189.989.559đồng, lãi quá hạn là 2.403.482.287đồng, lãi chậm trả 37.922.595đồng và tiền lãi phát sinh tương ứng theo lãi suất quá hạn được quy định theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng sau ngày 28/8/2023 cho đến khi ông P1, bà D thAh toán hết nợ. Trường hợp ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thAh toán trả nợ thì Ngân hàng TMCP S yêu cầu cơ quA có thẩm quyền phát mãi tài sản mà ông P1, bà D đã thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật trong thời giA chuẩn bị xét xử: Quá trình từ khi thụ
lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Ngân hàng TMCP S, buộc ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 6.831.394.441đồng, trong đó nợ gốc là 4.200.000.000đồng, nợ lãi gồm: Lãi trong hạn là 189.989.559đồng, lãi quá hạn là 2.403.482.287đồng, lãi chậm trả 37.922.595đồng và tiền lãi phát sinh tương ứng theo lãi suất quá hạn được quy định theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng sau ngày 28/8/2023 cho đến khi ông P1, bà D thAh toán hết nợ. Trường hợp ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thAh toán trả nợ thì đề nghị cơ quA có thẩm quyền phát mãi tài sản mà ông P1, bà D đã thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghieân cöùu các tài liệu chứng cứ có trong hoà sô, được thaåm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quA hệ trAh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 083/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 14/3/2019. Bị đơn có địa chỉ tại thôn Thắng Lợi, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị
Tuyết D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có
lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án
xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Căn cứ vào Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 083/2019/HĐHM-
CN/SHB.132100 ngày 14/3/2019 giữa Ngân hàng TMCP S, chi nhánh Bình Thuận
với ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D thì tại thời điểm ký kết hợp đồng
Ngân hàng TMCP S, chi nhánh Bình Thuận có đầy đủ tư cách pháp nhân; ông Lâm
Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; các bên giao
kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không giả tạo, không bị ép buộc, lừa dối, các
bên đã đọc lại, hiểu rõ, nhất trí và cùng ký tên. Vì vậy, hợp đồng cấp hạn mức tín
dụng số 083/2019/HĐHM-CN/SHB.132100 ngày 14/3/2019 giữa Ngân hàng
TMCP S, chi nhánh Bình Thuận với ông Lâm Vĩnh P1, bà Bùi Thị Tuyết D và các
văn bản kèm theo giữa các bên được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Theo Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 083/2019/HĐHM-
CN/SHB.132100 ký ngày 14/3/2019 và các văn bản kèm theo thì Ngân hàng
TMCP S, chi nhánh Bình Thuận đã cho ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D
vay số tiền gốc là 4.200.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay vốn bổ
sung vốn mua bán hải sản, lãi suất cho vay trong hạn kỳ đầu tiên là 12,1%/năm, lãi
suất được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm giải ngân, lãi suất quá hạn bằng
150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất lãi chậm trả 10%/năm.
Việc trả nợ gốc vào cuối kỳ và trả nợ lãi vào ngày 25 hàng tháng. Kể từ ngày vay,
ông P1 và bà D chỉ trả được 45.562đồng tiền lãi. Vì vậy ông P1 và bà D đã vi
phạm nghĩa vụ thAh toán tiền vay, mặc dù Ngân hàng TMCP S đã nhiều lần đôn
đốc nhắc nhở nhưng ông P1 và bà D cố tình trốn tránh không thực hiện. Tính đến
ngày 28/8/2023 số tiền mà ông P1 và bà D còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng cộng
là 6.831.394.441đồng, trong đó nợ gốc là 4.200.000.000đồng, nợ lãi gồm: Lãi
trong hạn là 189.989.559đồng, lãi quá hạn là 2.403.482.287đồng, lãi chậm trả
37.922.595đồng và tiền lãi phát sinh tương ứng theo lãi suất quá hạn được quy
định theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng sau ngày 28/8/2023 cho đến khi ông P1,
bà D thAh toán hết nợ.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng trên có hình thức và nội dung thỏa thuận không
trái với quy định của pháp luật. Căn cứ vào nội dung đã được các bên thỏa thuận
ký kết về thời hạn cho vay và thời hạn thAh toán nợ. Xét thấy ông P1 và bà D
không thực hiện nghĩa vụ đúng cam kết theo hợp đồng đã ký, vi phạm các điều
kiện ký kết trong hợp đồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết, đã nhiều lần cho
ông P1 và bà D cơ hội để khắc phục, thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng nhưng ông P1 và bà D cố tình vắng mặt không thực hiện việc trả nợ. Do vậy, Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tính đến ngày 28/8/2023 tổng cộng là 6.831.394.441đồng, trong đó nợ gốc là 4.200.000.000đồng, nợ lãi gồm: Lãi trong hạn là 189.989.559đồng, lãi quá hạn là 2.403.482.287đồng, lãi chậm trả 37.922.595đồng và tiền lãi phát sinh tương ứng theo lãi suất quá hạn được quy định theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng sau ngày 28/8/2023 cho đến khi ông P1, bà D thAh toán hết nợ là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
Về yêu cầu tính lãi: Đây là việc vay tiền của tổ chức tín dụng nên lãi
suất được áp dụng theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng giữa hai bên đã ký kết. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017 thì “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thoả thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy, căn cứ hợp đồng giữa các bên có thoả thuận về mức lãi suất và phía nguyên đơn cũng đã cung cấp bảng kê chi tiết tính lãi, do đó việc yêu cầu lãi của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
Về xử lý tài sản bảo đảm: Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 089/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 14/3/2019 được công chứng tại Văn phòng công chứng Trương Văn Cương ngày 14/3/2019 và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 15/3/2019 tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai PhA Thiết thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp xử lý tài sản mà ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D đã thế chấp đảm bảo cho khoản vay để thu hồi nợ vay trong trường hợp ông P1, bà D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng đã ký kết là có căn cứ phù hợp với các quy định tại khoản 1 Điều 299 Bộ luật dân sự quy định các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm như sau “1.Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Vì vậy, việc yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là đúng quy định nên chấp nhận.
Ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm
Thuận Bắc là có cơ sở nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận trong quá trình nghị án.
Từ những nhận định và phân tích như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, buộc ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tính đến hết
ngày 28/8/2023, tổng cộng là 6.831.394.441đồng, trong đó nợ gốc là
4.200.000.000đồng, nợ lãi gồm: Lãi trong hạn là 189.989.559đồng, lãi quá hạn là
2.403.482.287đồng, lãi chậm trả 37.922.595đồng và lãi suất phát sinh sau ngày
28/8/2023 tương ứng theo lãi suất quá hạn được quy định trong hợp đồng cấp hạn
mức tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S.
Trường hợp ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D không trả nợ hoặc trả
nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP S thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu
cầu cơ quA có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại hợp đồng thế chấp số 089/2019/HĐTC-
CN/SHB.132100 ngày 14/3/2019 để thAh toán nợ của ông P1 và bà D cho Ngân
hàng TMCP S.
Về án phí: Ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm và lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng TMCP S không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều
203, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273
Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các khoản 1 Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 323,
Điều 351, Điều 352, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự;
- Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Luật Thi hành án
dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy bA Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
Buộc ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D phải trả cho Ngân hàng
TMCP S số tiền nợ tính đến hết ngày 28/8/2023 tổng cộng là 6.831.394.441đồng
(sáu tỷ, tám trăm ba mươi mốt triệu, ba trăm chín mươi bốn nghìn, bốn trăm bốn
mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc là 4.200.000.000đồng, nợ lãi gồm: Lãi trong hạn
là 189.989.559đồng, lãi quá hạn là 2.403.482.287đồng, lãi chậm trả
37.922.595đồng và lãi suất phát sinh sau ngày 28/8/2023 tương ứng theo lãi suất quá hạn được quy định trong hợp đồng cấp hạn mức tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày giải quyết sơ thẩm (ngày 28/8/2023) ông P1
và bà D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thAh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thAh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cấp hạn mức tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thAh toán cho tổ chức tín dụng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của tổ chức tín dụng cho vay.
Trường hợp ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D không trả nợ hoặc trả
nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP S thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu Cơ quA thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 089/2019/HĐTC-CN/SHB.132100 ngày 14/3/2019 được công chứng tại Văn phòng công chứng Trương Văn Cương ngày 14/3/2019 và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 15/3/2019 tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai PhA Thiết, cụ thể: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 36, tờ bản đồ số 35, diện tích 100m2 tọa lạc tại phường Xuân A, thành phố PhA Thiết, tỉnh Bình Thuận thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE664766 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30/12/2016, cập nhật biến động ngày 13/3/2019 để thAh toán nợ của ông P1 và bà D cho Ngân hàng TMCP S.
2/ Về chi phí tố tụng:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D phải
chịu 114.831.394đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho
Ngân hàng TMCP S số tiền 57.152.890đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014446 ngày 21/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Về lệ phí: Ông Lâm Vĩnh P1 và bà Bùi Thị Tuyết D phải chịu
2.000.000đồng lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ để hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S đã nộp 2.000.000đồng tạm ứng lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận ngày 14/4/2023.
Ngân hàng TMCP S không phải chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/8/2023), đương sự vắng mặt có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAD tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Hàm Thuận Bắc; - Chi cục THADS H.Hàm Thuận Bắc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Huỳnh Thị Kim Hoa |