vanban.org

Bản án 48/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 31/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phương Thị N phạm tội "Đánh bạc".

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Phương Thị N 25 (hai mươi lăm) triệu đồng. Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phương Thị N phạm tội "Đánh bạc". - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phương Thị N phạm tội "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HSST
Ngày: 31/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Hòa

Ông Luân Văn Lý

Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2022/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Phƣơng Thị N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 06/8/1986; Nơi sinh: huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm Nà Tồng, xã Thượng Hà, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: tổ 02, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phương Văn C - sinh năm 1964; Con bà: Lưu Thị Nh - sinh năm 1964 (Cùng trú tại: xóm Nà Tồng, xã Thượng Hà, huyện B, tỉnh Cao Bằng); Chồng: Lục Văn Q - sinh năm 1982 (đã ly hôn năm 2009); Con: bị cáo có 01 con, sinh năm 2003; Anh chị em ruột: gia đình có 04 chị em, bị cáo là con cả trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 03/6/2021 bị Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (phạt tiền).

Bị cáo Phương Thị N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ 02, phường Sông Bằng, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lục Thảo V - sinh năm 2003; Tạm trú: tổ 02, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Lê Thị S - sinh năm 1985;

Tạm trú: tổ 14, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

2. Trần Huyền T - sinh năm 2001;

Tạm trú: tổ 04, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

3. Mai Trường G - sinh năm 1977;

Trú tại: tổ 12, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng;

4. Hà Trung V - sinh năm 1977;

Trú tại: phường Bãi Cháy, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 25/01/2022 tại tổ 02, phường S, thành phố Cao Bằng, tổ công tác Công an phường Sông Bằng, thành phố Cao Bằng bắt quả tang và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc đối với 03 đối tượng gồm: Phương Thị N (sinh năm 1986; Tạm trú: Tổ 02, phường S, thành phố Cao Bằng); Lê Thị S (sinh năm 1985; Tạm trú: Tổ 14, phường S, thành phố Cao Bằng) và Trần Huyền T (sinh năm 2001; Tạm trú: Tổ 04, phường H, thành phố Cao Bằng). Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 360.000 đồng; 01 bộ tú lơ khơ 52 quân. Tạm giữ: số tiền 2.200.000đ (trong nhà vệ sinh phòng trọ); 01 điện thoại di động Iphone 11 xanh ngọc, máy cũ đã qua sử dụng (của Phương Thị N); 01 điện thoại di động OPPO màu xanh dương, máy cũ đã qua sử dụng (của Lê Thị S); 01 điện thoại di động Iphone 11, màu vàng gold, máy cũ đã qua sử dụng (của Trần Huyền T).

Quá trình điều tra đủ căn cứ để xác định: Chiều ngày 25/01/2022, sau khi cùng nhau đi ăn ốc, uống rượu đến khoảng 21 giờ cùng ngày Phương Thị N, Lê Thị S, Trần Huyền T, Hà Trung V (sinh năm 1997; trú tại: phường Bãi Cháy, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) di chuyển về phòng trọ của Phương Thị N tại tổ 02, phường S, thành phố Cao Bằng. Tại phòng trọ, N, S, T rủ nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh “phỏm” và dùng bộ tú lơ khơ gồm 52 quân bài có sẵn trên cửa sổ phòng trọ để chơi. Luật chơi cụ thể như sau: Bộ tú lơ khơ gồm 52 quân bài, thứ tự các lá bài từ thấp đến cao là A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K; khi bắt đầu ván bài, toàn bộ người chơi sẽ được chia mỗi người 09 quân bài, riêng người chia hoặc người thắng của ván trước sẽ được 10 quân bài và được quyền đánh trước, đánh theo chiều quay kim đồng hồ cho người tiếp theo, nếu người tiếp theo có thể ăn lá bài thì sẽ tạo thành “phỏm” (là bài có 03 quân trở lên cùng chất và có số liên tiếp nhau hoặc 03 quân bài khác chất nhưng cùng số). Nếu không ăn được lá bài để tạo thành “phỏm” thì sẽ bốc một quân bài rồi đánh tiếp cho đến khi hết bốn lượt là xong một ván. Nếu trong ván có người “ù” (có bộ 03 phỏm hoặc toàn bộ bài một màu) thì người đó thắng và sẽ được mỗi người thua trả 50.000 đồng. Nếu không có ai “ù” thì toàn bộ người chơi sẽ hạ “phỏm” và cộng các lá bài còn lại trên tay để tính điểm. Ai có ít điểm nhất trong ván bài sẽ là người thắng cuộc, xếp theo thứ tự người về thứ hai trả 20.000 đồng và người thứ ba trả 30.000 đồng; người nào không có “phỏm” phải trả cho người thắng 40.000 đồng. Trong lúc cả nhóm đánh bài, V nằm ngủ giữa chỗ ngồi của N và S, phòng ngủ phía bên trong phòng trọ có con gái của N là Lục Thảo V (sinh năm 2003) đang ngủ. Khi cả nhóm đánh bài được khoảng 01 tiếng thì có Mai Trường G (sinh năm 1977; trú tại: tổ 12, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) đến phòng trọ chơi. Do đã say rượu nên G nằm ngủ giữa vị trí ngồi của S và T. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an phường Sông Bằng, thành phố Cao Bằng đến kiểm tra hành chính đã bắt quả tang hành vi đánh bài ăn tiền, N, S, T sợ đã chạy trốn vào trong phòng vệ sinh. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Kết quả tra cứu tiền án, tiền sự, xác định: Lê Thị S, Trần Huyền T chưa có tiền án, tiền sự; Phương Thị N có 01 tiền sự: Ngày 03/6/2021, bị Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và tính đến ngày 25/01/2022 chưa hết thời hiệu được coi như chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Quá trình điều tra, xác minh làm rõ: Khi tổ công tác đến kiểm tra, Lục Thảo V lo sợ nên đã cầm toàn bộ số tiền tiết kiệm của mình, chạy vào phòng vệ sinh bỏ vào trong bể nước xả bồn cầu. Sau khi kiểm tra xác định số tiền là 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng) trong tình trạng ướt nước và 03 chiếc điện thoại di động thu giữ của Phương Thị N, Lê Thị S, Trần Huyền T không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 21/3/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra quyết định trả lại số tiền 2.200.000 đồng cho Lục Thảo V; 03 điện thoại di động cho các chủ sở hữu.

Với hành vi trên, bị cáo Phương Thị N đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự. Tại bản Cáo trạng số: 35/CT-VKSTP ngày 18/4/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Phương Thị N về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Về vật chứng vụ án: 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài bị cáo khai thuộc sở hữu của bị cáo, còn số tiền 360.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc là tiền những người tham gia đánh bạc bỏ ra để đánh bạc, bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lục Thảo V có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, có ý kiến xác nhận đã nhận lại số tiền 2.200.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phương Thị N về tội danh, điều luật như đã nêu trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phương Thị N phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt chính: đề nghị phạt tiền bị cáo Phương Thị N từ 20 đến 25 triệu đồng. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài, tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền thu trên chiếu bạc là 360.000 đồng; Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình thực hiện là sai trái, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ để làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 25/01/2022 tại tổ 02, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, bị cáo Phương Thị N cùng với Lê Thị S, Trần Huyền T có hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh “Phỏm”. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

Số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng do bị cáo Phương Thị N có 01 tiền sự về hành vi Đánh bạc chưa đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do vậy, hành vi của bị cáo Phương Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tại thời điểm xét xử bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa về hành vi Đánh bạc. Do đó, bị cáo là người có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi mình và hành vi bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận là lao động tự do, có thu nhập hàng tháng. Mục đích của việc phạm tội là hưởng lợi bất chính từ việc đánh bạc. Căn cứ vào nhân thân của bị cáo; tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Phương Thị N là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo, vừa đảm bảo việc thu nộp ngân sách nhà nước, lại có tác dụng răn đe đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

+ Đối với 01 (một) bộ bài lơ khơ loại 52 quân đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

+ Tiền Việt Nam: 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo và những người cùng tham gia với bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm (số tiền thu trên chiếu bạc) nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Tài sản tạm giữ gồm: Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 xanh ngọc, máy cũ đã qua sử dụng (của Phương Thị N); 01 điện thoại di động OPPO màu xanh dương, máy cũ đã qua sử dụng (của Lê Thị S); 01 điện thoại di động Iphone 11, màu vàng gold, máy cũ đã qua sử dụng (của Trần Huyền T) và số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) thu giữ trong nhà vệ sinh phòng trọ (của Lục thảo V), quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi đánh bạc. Do vậy, ngày 21/3/2022 cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại và số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội cho Lê Thị S, Phương Thị N, Trần Huyền T, Lục Thảo V là đúng quy định pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về các vấn đề khác: Đối với hành vi của Lê Thị S, Trần Huyền T, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã xác định: S, T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do vậy, ngày 21/3/2022 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Lê Thị S, Trần Huyền T về hành vi Đánh bạc là đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: bị cáo Phương Thị N phạm tội "Đánh bạc".

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Phương Thị N 25 (hai mươi lăm) triệu đồng.

2. Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài lơ khơ 52 quân;

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam: 360.000đ (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng (không có kết luận giám định tiền).

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2022.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử buộc bị cáo Phương Thị N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ