vanban.org

Bản án 48/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 24/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Thành T phạt tiền với mức phạt tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Trung - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN M
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HSST
Ngày: 24-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN M – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Nương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Văn Tiềm

2/ Ông Trương Sô Huy

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Bảo Quốc - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 24 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2022/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2022 đối với Bị cáo:

Nguyễn Thành T;

Giới tính: Nam;

Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 21 tháng 01 năm 1992; Tại: Cần Thơ.

Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ.

Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1965 và bà Võ Thị C, sinh năm 1969; anh, em có 03 người; vợ, con: không.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 24/12/2021 Nguyễn Thành T bị Công an phường T, quận M, thành phố Cần Thơ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc bằng hình thức đá gà ăn tiền. Thực hiện việc đóng phạt ngày 06/01/2022.

Bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Chí T, sinh năm 1982. Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ. Xin xét xử vắng mặt.

2. Anh Mai Vinh Q, sinh năm 1980. Địa chỉ: khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ. Xin xét xử vắng mặt.

3. Anh Trần Phú V, sinh năm 1999. Địa chỉ: khu vực T, phường Thới L, quận M, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 06 tháng 5 năm 2022 Công an phường T, quận M, thành phố Cần Thơ phát hiện tại quán nước giải khát của bà Lê Thị L, thuộc khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ các đối tượng Nguyễn Thành T, sinh năm 1992, trú khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ; Mai Vinh Q sinh năm 1980, trú khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ; Trần Phú V, sinh năm 1999, khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ đang có hành vi đánh bạc được, thua bằng tiền nên tiến hành lập biên bản lập biên bản vi phạm.

Tang vật thu giữ: 01 bộ bài tây 52 lá, tiền Việt Nam trên chiếu bạc 20.000 đồng. Tiền trên người các đối tượng là: 1.530.000 đồng.

Quá trình xác minh tin báo xác định được: Khoảng 09 giờ ngày 06 tháng 5 năm 2022, bị cáo T cùng các đối tượng T, Q và V đến quán nước giải khát của bà L để uống nước giải khát. Tại đây cả nhóm rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền. Hình thức đánh bạc là đánh bài tiến lên, loại bài 52 lá. Cách thức ăn thua như sau: Mỗi tụ được chia 13 lá bài, ai đánh hết bài trước sẽ thắng người còn bài sau cùng 10.000 đồng; người hết bài thứ hai sẽ thắng người hết bài thứ ba 5000 đồng. Cả nhóm đánh bạc đến khoảng 10 giờ thì bị lực lượng Công an phường T phát hiện và lập biên bản vi phạm.

Đối với số tiền thu giữ trên người những người tham gia đánh bạc cụ thể như sau: Nguyễn Chí T mang theo 250.000 đồng, sử dụng 50.000 đồng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt bị thu giữ 230.000 đồng, trong đó 30.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, 20.000 đồng trên chiếu bạc; Nguyễn Thành T khi bị bắt thu giữ 720.000 đồng, sử dụng 120.000 đồng vào việc đánh bạc, số còn lại là tiền cá nhân; Mai Vinh Q khi bị bắt thu giữ 110.000 đồng, sử dụng tất cả vào việc đánh bạc; Trần Phú V khi bị bắt thu giữ 470.000 đồng, sử dụng 50.000 đồng vào việc đánh bạc, số tiền còn lại là tiền cá nhân. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 330.000 đồng.

Về nhân thân: Ngày 24/12/2021 Nguyễn Thành T bị Công an phường T, quận M, thành phố Cần Thơ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc bằng hình thức đá gà ăn tiền. Thực hiện việc đóng phạt ngày 06/01/2022.

Đối với Nguyễn Chí T, Mai Vinh Q, Trần Phú V do số tiền dùng để đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận M, thành phố Cần Thơ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Lê Thị L tại thời điểm xảy ra sự việc bà L đang ở phía sau nhà nên không biết việc các đối tượng sử dụng quán mình làm nơi đánh bạc. Trong các đối tượng tham gia đánh bạc có Nguyễn Chí T là con ruột bà L xem quán nên không xem xét xử lý đối với bà L.

Tại Bản cáo trạng số 51/CT-VKS-OM ngày 12 tháng 9 năm 2022 Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ để xét xử bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M, thành phố Cần Thơ trình bày lời luận tội: Giữ quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thành T theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Qua phân tích những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội Đánh bạc; xử phạt bị cáo là phạt tiền mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về vật chứng trong vụ án đề nghị áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam là 330.000 đồng (trong đó tiền trên chiếu bạc là 20.000 đồng và tiền của dùng để đánh bạc của Nguyễn Chí T là 30.000 đồng; Nguyễn Thành T là 120.000 đồng, Mai Vinh Q là 110.000 đồng, Trần Phú V là 50.000 đồng).

Trả lại Nguyễn Chí T là 200.000 đồng; Nguyễn Thành T là 600.000 đồng, Trần Phú V là 420.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và rất ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo thể hiện tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can; Biên bản ghi nhận phát hiện vụ đánh bạc trái phép ngày 06/5/2022 của Công an phường T; các Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính ngày 06/5/2022; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0033644/QĐ-XPHC, Quyển số 0673 ngày 24/12/2021của Công an phường T; Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các tang vật và chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ và cơ sở kết luận:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 06 tháng 5 năm 2022 tại quán nước giải khát của bà Lê Thị L, thuộc khu vực T, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ, bị cáo Nguyễn Thành T cùng các đối tượng Nguyễn Chí T, Mai Vinh Q và Trần Phú V đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền. Hình thức đánh bạc là đánh bài tiến lên, loại bài 52 lá, tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thành T cùng các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 330.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng) nhưng bản thân bị cáo Nguyễn Thành T có 01 tiền sự, vào ngày 24/12/2021 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa mà còn vi phạm. Hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, việc đưa ra truy tố, xét xử đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo là công dân Việt Nam, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bản thân gây ra. Bị cáo biết hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương nhưng vì hám lợi, ham mê cờ bạc nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm răn đe lại tiếp tục tham gia đánh bạc, thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, để có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo đề nghị của kiểm sát viên là có cơ sở, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận M là phù hợp nên chấp nhận.

Đối với Nguyễn Chí T, Mai Vinh Q, Trần Phú V chưa có tiền án, tiền sự về về hành vi Đánh bạc, Gá bạc và Tổ chức đánh bạc nên Công an quận M đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với địa điểm mà các đối tượng đã dùng để đánh bạc là nhà bà Lê Thị L tại thời điểm xảy ra sự việc bà L đang ở phía sau nhà nên không biết việc các đối tượng sử dụng quán mình làm nơi đánh bạc, bà L không tổ chức và thu tiền xâu nên chưa đủ cơ sở xử lý là phù hợp.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt Nguyễn Thành T phạt tiền với mức phạt tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam là 330.000 đồng (trong đó tiền trên chiếu bạc là 20.000 đồng; tiền dùng để đánh bạc thu giữ của Nguyễn Chí T là 30.000 đồng; Nguyễn Thành T là 120.000 đồng, Mai Vinh Q là 110.000 đồng, Trần Phú V là 50.000 đồng).

Trả lại Nguyễn Chí T số tiền là 200.000 đồng; Nguyễn Thành T số tiền là 600.000 đồng, Trần Phú V số tiền là 420.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.

(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận M quản lý).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án; đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ