- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu K - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu K 20.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2022/HS-ST Ngày 10 tháng 8 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Hương Thanh.
2. Ông Hồ Văn Hào.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2022/QĐXXST-HS ngày 29/7/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu K - Tên gọi khác: Không; sinh ngày 06 tháng 3 năm 1993, tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T (chết) và bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 15/6/2021 bị Công an thị xã T, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.200.000 đồng (một triệu, hai trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15/QĐ-XPHC, thi hành xong tiền phạt ngày 15/6/2021; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn T, sinh năm 1993.
Anh Phạm Văn T, sinh năm 1977.
Đều trú tại: Khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An (đều có mặt).
- Người chứng kiến: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1998.
Trú tại: Khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 19 tháng 4 năm 2022, sau khi ăn uống tại nhà anh Phạm Văn T xong thì Nguyễn Hữu K, Phạm Văn T, Phạm Văn T cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Xì lát”, được thua bằng tiền, tỷ lệ cá cược mỗi ván từ 10.000 đồng (mười nghìn đồng) đến 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng). Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phường Q kiểm tra, phát hiện và lập biên bản sự việc. Thu giữ tổng số tiền trên chiếu bạc là 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng), 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài.
Quá trình điều tra xác định được Nguyễn Hữu K sử dụng số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) để đánh bạc và đang hòa tiền; Phạm Văn T sử dụng số tiền 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) để đánh bạc và thắng bạc số tiền 140.000 đồng (một trăm bốn mươi nghìn đồng); Phạm Văn T sử dụng số tiền 340.000 đồng (ba trăm bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc và thua bạc số tiền 140.000 đồng (một trăm bốn mươi nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền bị cáo và các đối tượng T, T1 sử dụng để đánh bạc là 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tại kết luận giám định số 184/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 11/5/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Số tiền 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo và các đối tượng đánh bạc là tiền thật.
Tại Bản cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2022, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố Nguyễn Hữu K về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 - BLHS.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 - BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu K từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập của bị cáo từ 10% đến 15%/tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung quỹ nhà nước về tội “Đánh bạc”.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 47 - BLHS; khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng), tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản sự việc lập hồi 14 giờ 30 phút, ngày 19/4/2022, tại khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An cùng các vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cũng như các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Từ đó đã xác định được khoảng 14 giờ ngày 19/4/2022, Nguyễn Hữu K, Phạm Văn T và Phạm Văn T đã có hành vi đánh bạc tại nhà anh Phạm Văn T thuộc khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An bằng hình thức đánh bài “Xì lát” được thua bằng tiền, đặt cược mỗi ván từ 10.000 đồng (mười nghìn đồng) đến 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng). Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an phường Q, thị xã T bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng). Mặc dù tổng số tiền bị cáo K và các đối tượng T, T1 đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng bị cáo K đang có một tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xoá lại tiếp tục đánh bạc nên hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu K đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 - BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng chống các tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn đánh bạc. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền hay hiện vật dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích hám lợi và thái độ xem thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo đang có một tiền sự về hành vi đánh bạc, tuy nhiên đây là tình tiết định tội đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Mặt khác ông nội bị cáo là Nguyễn Hữu N là liệt sỹ, được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng và hiện tại bị cáo đang thờ cúng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự.
Xét số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc không lớn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên chưa cần áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền theo quy định tại điều 35 - BLHS cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 - BLHS thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Khi bắt quả tang hành vi phạm tội của bị cáo, Công an phường Q, thị xã T đã thu giữ các vật chứng gồm: Số tiền 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng) và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài. Xét đây là vật chứng mà bị cáo và các đối tượng T, T1 sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng), tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài theo các điểm a, b khoản 1 Điều 47 - BLHS; khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.
Đối với Phạm Văn T và Phạm Văn T đã có hành vi đánh bạc với Nguyễn Hữu K nhưng tổng số tiền T, T1 và bị cáo sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhân thân T, T1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do đó hành vi của T, T1 không cấu thành tội đánh bạc nên Công an thị xã Thái Hoà đã xử phạt hành chính.
Đối với Phạm Văn T là chủ nhà, tại thời điểm bị cáo và các đối tượng đánh bạc trong nhà T thì T đi rửa bát sau đó chơi điện tử ngoài sân nên không biết việc bị cáo và các đối tượng T, T1 đánh bạc trong nhà mình nên Phạm Văn T không phạm tội.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 - BLHS:
Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu K 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 - BLHS; khoản 2 Điều 106 - BLTTHS: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng), tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài do bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội.
Toàn bộ số tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo Uỷ nhiệm chi lập ngày 20/7/2022 vào tài khoản tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà và biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 7 năm 2022 giữa Công an thị xã Thái Hoà và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người có QL & NV liên quan; - Công an thị xã Thái Hòa; - VKSND thị xã Thái Hòa; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND phường nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Văn Diên |