- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2022/HS - ST Ngày: 02 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn và bà Vũ Thị Linh.
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2022/TLST - HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh Đ, sinh năm 1989 tại xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn Trực T, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần C (tên gọi khác: Trần Minh C) và bà Đàm Thị N; vợ là Vũ Thị L (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Bản án số 24/2006/HSST ngày 29/6/2006 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Minh Đ 08 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" (bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, trị giá tài sản chiếm đoạt 1.400.000 đồng), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/5/2007, nộp án phí ngày 21/8/2006;
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ - XPHC ngày 15/01/2009 của Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Minh Đ 500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt ngày 02/02/2009;
- Bản án số 08/2013/HSST ngày 29/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Minh Đ 26 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2014, nộp án phí ngày 09/7/2013;
- Bản án số 52/2018/HSST ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Minh Đ 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/6/2019, nộp án phí ngày 14/3/2019;
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 219/QĐ - XPVPHC ngày 07/12/2018 của Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Minh Đ 1.000.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản", đã nộp phạt ngày 12/12/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2021, đến ngày 24/12/2021 bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Anh Mạc Đình H;
- Chị Nguyễn Thị N.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 23/12/2021, Trần Minh Đ (là đối tượng nghiện ma túy) đi xe ôm từ nhà ở thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương đến khu vực bến đò Vạn thuộc khu dân cư V, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Đ xuống xe đi đò sang khu vực xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương rồi gặp và mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch 3.500.000 đồng ma túy. Người đàn ông đó cầm tiền và đi đâu đó khoảng 20 phút sau thì quay lại, chỉ cho Đ vị trí để ma túy ở cách chỗ Đ đang đứng khoảng 3 mét. Theo hướng chỉ tay của người đàn ông, Đ nhìn thấy ở dưới mặt đất cách chỗ Đ đang đứng khoảng 03 mét có 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”. Đ đi đi bộ đến chỗ có vỏ bao thuốc lá rồi nhặt vỏ bao thuốc lá lên và mở ra xem thì thấy 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy. Đ cất giấu vỏ bao thuốc lá chứa gói ma túy tại túi quần phía trước bên phải rồi đi về. Khoảng 13 giờ 15 phút, khi Đ đi về đến bến đò Vạn thuộc khu dân cư Vọng Cầu, phường Tân Dân, thành phố Chí Linh thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phối hợp với Công an phường Tân Dân phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”, bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước (8 x 5)cm, bên trong túi nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, Đ khai là ma túy, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Tại bản Kết luận giám định số 83/KLGĐ - PC09 ngày 25/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ghi thu của Trần Minh Đ gửi đến giám định khối lượng là 6,105 gam là ma túy, loại Methamphetamine (khối lượng hoàn lại 5,984 gam).
Tại bản cáo trạng số 49/CT - VKS - CL ngày 05/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Trần Minh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đối với mình là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/12/2021. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 5,984 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 23/12/2021, tại bến đò Vạn thuộc khu dân cư Vọng Cầu, phường Tân Dân, thành phố Chí Linh, Trần Minh Đ đang có hành vi cất giấu trái phép tại túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”, bên trong có chứa 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước (8 x 5)cm, bên trong túi nilon chứa 6,105 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phối hợp với công an phường Tân Dân phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo cất giấu trái phép 6,105 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân đã cấu thành thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính và nhiều lần bị Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương kết án. Tuy bị cáo đã chấp hành xong các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và các bản án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện ý thức của bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo không có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, cất giấu ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân; bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo: 6,105 gam ma túy, loại Methamphetamine, sau khi giám định hoàn lại là 5,985 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 túi nilong màu trắng viền khóa màu đỏ, 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long” đã dùng để đựng ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là những vật không còn giá trị, nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Đối với người đàn ông chở bị cáo đi đến bến đò Vạn, bị cáo khai rằng người đó không biết bị cáo đi mua ma túy, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xem xét. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/12/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 5,984 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilong màu trắng viền khóa màu đỏ; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số 83/KLGĐ - PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương và 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu “Thăng Long”.
(Vật chứng hiện đang do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/5/2022 giữa Công an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương).
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT Công an TP Chí Linh; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hậu |