vanban.org

Bản án 48/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thanh H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thanh H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/6/2022;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thanh H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THUỶ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HS-ST
Ngày: 24 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Giàu.

2. Bà Trần Thị Bé Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Dương Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2022/TLST-HS, ngày 13 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2022/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với:

Bị cáo Nguyễn Thanh H, sinh năm 1991; tại huyện Giồng Riềng, tỉnh K; nơi cư trú: ấp A, xã H, huyện G, tỉnh K; nghề nghiệp: Làm thuê; chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị M; anh chị em ruột: 02 người; có vợ là Trần Thị Kiều T và 03 người con (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 28/6/2022, đến ngày 04/7/2022 bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Trần Thị Kiều T, sinh năm 1994; nơi cư trú: ấp A, xã H, huyện G, tỉnh K (Có mặt);

2. Anh Vũ Quốc T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn T,

huyện H, tỉnh K (Vắng mặt);

Người chứng kiến: Ông Huỳnh Văn K, sinh năm: 1968; nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện t, tỉnh H (Vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; bản ảnh hiện trường; kết luận giám định, biên bản ghi lời khai, tờ tự khai, biên bản hỏi cung bị can và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 28/6/2022 (không rõ thời gian), bị cáo Nguyễn Thanh H dùng điện thoại di động Nokia, sim số 0918341104 để liên hệ với một nam thanh niên tên là Chó Phốc (không rõ nhân thân, lai lịch), chỉ nhớ 03 số điện thoại cuối của Chó Phốc là 153, sau khi liên hệ xong, Chó Phốc kêu bị cáo đến Nhà thông tin Khu vực 4, phường 5, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang để giao ma tuý, bị cáo mượn xe mô tô biển kiểm soát 68T4-8967 của chị Trần Thị Kiều T (vợ bị cáo) nói là đi công chuyện.

Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68T4-8967 đến Nhà thông tin Khu vực 4, phường 5, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang để mua ma tuý, khi đến nơi bị cáo ngồi đợi khoảng 10 phút thì người thanh niên tên Chó Phốc đến giao cho bị cáo một bịch ma tuý, và bị cáo cất ma tuý vào túi quần Jean phía sau bên trái và lấy 1.000.000đ ra trả cho Chó Phốc; sau đó, bị cáo chạy xe về nhà, khi chạy xe đến bến đò Kênh Lò Rèn, thuộc ấp 03, xã Vị Đông, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang thì bị Công an tỉnh Hậu Giang phối hợp với Công an huyện Vị Thuỷ kiểm tra, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: một bịch nylon được gài kín bên trong có chứa các tinh thể trong suốt nghi là ma tuý; một căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh H; một điện thoại di động Nokia, gắn sim số 0918341104, số IMEL 353215038930084; một điện thoại di động Iphone 6, đã qua sử dụng, số IMEI: 353267079530273; một xe mô tô biển số 68T4-8967; một giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 68T4-8967, mang tên Vũ Quốc T;

Tại Bản kết luận giám định số 566/KL-KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hậu Giang kết luận: “Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,18206 gam, loại Methamphetamine”.

Tại Bản cáo trạng số 43/CT-VKS-HVT, ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng đã truy tố; đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo là đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; về trách nhiệm dân sự: không có.

Về vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định và các vật không có giá trị sử dụng; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước một điện thoại di động Nokia, gắn sim số 0918341104, số IMEL 353215038930084; trả lại cho bị cáo: một căn cước công dân, một giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 68T4-8967 mang tên Vũ Quốc T, một điện thoại di động Iphon 6 (đã qua sử dụng); bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Vị Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục: Anh Vũ Quốc T là có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ông Huỳnh Văn K là người chứng kiến, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt; trước đó, họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây cản trở cho việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 293, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự, để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Thanh H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vào chiều ngày 28/6/2022 (không rõ thời gian), bị cáo Nguyễn Thanh H dùng điện thoại di động Nokia, sim số 0918341104 để liên hệ với một nam thanh niên tên là Chó Phốc (không rõ nhân thân, lai lịch), chỉ nhớ 03 số điện thoại cuối là 153, sau khi liên hệ xong, Chó Phốc kêu bị cáo đến Nhà thông tin Khu vực 4, phường 5, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang để giao ma tuý.

[4] Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68T4-8967 đến Nhà thông tin Khu vực 4, phường 5, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang để mua ma tuý, khi đến nơi bị cáo ngồi đợi khoảng 10 phút thì người thanh niên tên Chó Phốc đến giao cho bị cáo một bịch ma tuý, bị cáo cất ma tuý vào túi quần Jean phía sau bên trái và lấy 1.000.000đ ra trả cho Chó Phốc; sau đó, bị cáo chạy xe về nhà, khi chạy xe đến bến đò Kênh Lò Rèn (chưa qua đò), thuộc ấp 03, xã Vị Đông, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang thì bị Công an tỉnh Hậu Giang phối hợp với Công an huyện Vị Thuỷ kiểm tra, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: một bịch nylon được gài kín bên trong có chứa các tinh thể trong suốt nghi là ma tuý, nên Cơ quan Công an lập biên bản tạm giữ đồ vật, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ; sau đó, Cơ quan Điều tra ra quyết định trưng cầu giám định.

[5] Tại Bản kết luận giám định số 566/KL-KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hậu Giang kết luận: “Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,18206 gam, loại Methamphetamine”.

[6] Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

[7] Quá trình điều tra và diễn biến tại phiên tòa đã chứng minh được lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Như vậy, với hành vi bị cáo đã thực hiện và hậu quả bị cáo đã gây ra là đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[8] Bị cáo nhận thức rõ hành vi mua ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn mua về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng, đây là nguồn gốc phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội khác, hậu quả bị cáo gây ra thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong xã hội. Do đó, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[9] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[10] Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế; bị cáo có ông nội tên là người có công với cách mạng (được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì); chấp hành tốt Nội quy Nhà tạm giữ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, như ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên là có căn cứ. Mức hình phạt do Kiểm sát viên đề xuất là có căn cứ, tương xứng với hành vi, hậu quả bị cáo đã gây ra.

[11] Vật chứng là vật cấm: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong; một đoạn băng keo màu đen không rõ kích thước dính một ít giấy vệ sinh màu trắng, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, các điểm a và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy. Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng xử lý vật chứng là có căn cứ.

[12] Một điện thoại di động Nokia 6300, màu đen, đã qua sử dụng, số sêri 353215038930084, bị cáo sử dụng để liên lạc với Chó Phốc mua ma túy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.

[13] Một điện thoại di động Iphone 6, đã qua sử dụng, số IMEI: 353267079530273; một căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh H, đây là loại giấy tờ tùy thân, một giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 68T4-8967 mang tên Vũ Quốc T, không liên quan đến vụ án. Căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo và chị Kiều Tiên.

[14] Một xe mô tô biển số 68T4-8967, do bị cáo và chị Trần Thị Kiều T (vợ bị cáo) mua của ông Vũ Quốc T, mua trong thời kỳ hôn nhân (chưa sang tên), bị cáo sử dụng phương tiện này đi mua ma tuý thì chị Trần Thị Kiều T không biết. Chiếc xe này đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chị Trần Thị Kiều T, nên không xử lý. Nếu có tranh chấp thì giải quyết theo thủ tục dân sự.

[15] Về trách nhiệm dân sự: không có, nên không đề cập đến.

[16] Về hình phạt bổ sung: miễm cho bị cáo;

[17] Đối với người thanh niên tên Chó Phốc đã bán ma túy cho bị cáo, ngang cửa Nhà Thông tin, khu vực 4, phường 5, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, do không có họ tên, địa chỉ cụ thể, không gắn camera an ninh, nên không xác định được, đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý.

[18] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[19] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 292, 296, 298, 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thanh H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thanh H 18 (Mười tám) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/6/2022;

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và các điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu và tiêu hủy: Một phong bì được đóng gói niêm phong mẫu vật, vụ số 566/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hậu Giang, có chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương Loan, đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hậu Giang và đồng chí Nguyễn Hoàng Phúc, cán bộ Công an huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang; một đoạn băng keo màu đen không rõ kích thước, dính một ít giấy vệ sinh màu trắng.

2.2. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động Nokia 6300, màu đen, đã qua sử dụng, số sêri 353215038930084.

2.3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H: Một điện thoại di động Iphone 6, đã qua sử dụng, số IMEI: 353267079530273; một căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh H và một giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 68T4-8967 mang tên Vũ Quốc T.

(Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/10/2022 giữa đại diện Cơ quan điều tra và đại diện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp số tiền là: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

5. Đối với người thanh niên tên Chó Phốc bán ma túy cho bị cáo, ngang cửa Nhà Thông tin Khu vực 4, phường 5, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM-HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ