- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2022/HS-ST Ngày 05 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mầu Văn Mùi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Duy Tùng và bà Hoàng Bích Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn La, Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lưu động trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Ngọc Q, sinh ngày 19/02/1986; nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; văn hóa: 8/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Văn D và bà Vũ Thị Y; có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số: 51/2006/HSST ngày 18/8/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội: “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong ngày 18/8/2007); Bản án số: 92/2010/HSST ngày 03/12/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” (chấp hành xong ngày 30/8/2013); ngày 12/3/2014, Công an phường H, thành phố V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đ về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy” (nộp phạt ngày 12/3/2014); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2022 đến nay (có mặt).
Người làm chứng: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 18/6/2022, tại đường tỉnh lộ 302 đoạn đường gần cổng trường Trung học phổ thông T 2, thuộc thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã B phát hiện bắt quả tang Trần Ngọc Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu tại túi quần phía trước bên phải của Q đang mặc 01 túi nhỏ nilon màu trắng, bên trong có 01 gói nhỏ bằng giấy màu trắng có chứa chất cục bột màu trắng (Q khai nhận là gói ma túy Heroine) vừa mua được với giá 200.000đ mục đích để sử dụng cho bản thân, vật chứng được niêm phong ký hiệu M1.
Tại kết luận giám định số: 1831/KLGĐ ngày 22/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:“Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1416g loại Heroine”.
Về nguồn gốc ma túy, Q khai nhận: Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 18/6/2022, Q đang ở nhà thì có nhu cầu sử dụng ma túy, nên Q một mình đi bộ ra đường đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông đi đường khoảng 40 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đến khu vực cổng Trường trung học phổ thông T 2 thuộc thôn Tây Sơn, xã Bồ Lý, huyện T. Tại đây, Q tìm và mua được của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 gói ma túy heroin với giá 200.000đ. Sau khi mua được gói ma túy, Q cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang.
Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSTĐ ngày 16/8/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Trần Ngọc Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Trần Ngọc Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ,tam giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 18/6/2022, tại đường tỉnh lộ 302 đoạn đường gần cổng Trường trung học phổ thông T 2 thuộc thôn Tây Sơn, xã Bồ Lý, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo Trần Ngọc Q có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy (heroine), có khối lượng là 0,1416g, mục đích để sử dụng cho bản thân thì phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Ngọc Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là tệ nạn xã hội cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra ma túy là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác.
Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo Trần Ngọc Q là người có nhân thân xấu, bị cáo đã 02 lần bị đưa ra xét xử về tội xâm phạm sở hữu tài sản và xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo vẫn không lấy làm bài học cho bản thân. Mặc dù những tiền án, tiền sự này đã được xóa án tích và coi như chưa bị xử lý hành chính nhưng vẫn thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để làm người công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông, bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho bị cáo nhưng bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này. Ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ nào khác để xác định đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Đối với người cho bị cáo đi nhờ xe, Bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này và không nói mục đích bị cáo đi tìm mua ma túy để sử dụng. Người này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại do không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Q 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/6/2022).
3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại, gồm: 0,0916g mẫu và toàn bộ bao gói (có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/8/2022).
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Trại TGCA tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Công an huyện T; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Mầu Văn Mùi |