vanban.org

Bản án 48/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 20/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Cà Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 01 năm 2022. Không phạt hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HS-ST
Ngày: 20-5-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Văn Hùng

2. Ông: Lò Văn Đ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Trí Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2022/ TLST-HS, ngày 22 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST – HS ngày 09 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn T; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989 tại huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKNKTT: Bản L, xã ẲN, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản L, xã ẲN, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Cà Văn D (đã chết) và bà Lù Thị H, sinh năm 1947; Bị cáo có vợ là chị Lường Thị K, sinh năm 1990 và có 01 người con, sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2022 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Anh Lò Văn Đ, sinh năm 1981, cư trú tại bản M, xã ẲN, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Cà Văn T được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 10 phút ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại tổ dân phố 8, thị trấn Mường Ảng, huyện MA, tỉnh Điện Biên Cà Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,25 gam Heroine mục đích để sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/01/2022 Cà Văn T đang ở nhà thì có Lò Văn Đ, sinh năm 1981 trú tại bản M, xã ẲN, huyện MA, tỉnh Điện Biên đến và đưa cho T 180.000 đồng bảo T đi mua ma tuý về để cả hai cùng sử dụng. T đồng ý và nhận tiền của Đ rồi đi bộ ra ngoài đường thuộc Bản L, xã ẲN, huyện MA hỏi và đi nhờ xe máy của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đến tổ dân phố 10, thị trấn Mường Ảng, huyện MA rồi đi bộ đến bản CN, xã AT, huyện MA tìm mua ma tuý. Khi đi đến cây xăng thuộc bản CN, xã AT, huyện MA thì T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên, tuổi và địa chỉ ở đâu 04 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy trắng có hoa văn với giá 180.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T cho 02 gói Heroine vào khẩu trang đeo trên miệng cất giấu còn 02 gói Heroine T cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà. Hồi 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi Cà Văn T đi về đến khu vực thuộc tổ dân phố 8, thị trấn Mường Ảng, huyện MA thì gặp Tổ Công tác Công an thị trấn Mường Ảng đang làm nhiệm vụ. Qua vận động T đã tự giác giao nộp 04 gói Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 0,25 gam Heroine.

Ngày 13/01/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Cà Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 13 giờ 20 phút ngày 05/01/2022 thì vật chứng thu giữ của Cà Văn T là 04 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói bằng mảnh giấy trắng có hoa văn nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 05/01/2022 thì 04 gói nhỏ chất bột màu trắng được gói bằng mảnh giấy trắng có hoa văn nghi là Heroine có khối lượng là: 0,25 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 175/GĐ – PC 09, ngày 13/01/2022 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Cà Văn T gồm: 0,25 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 25/CT - VKSMA, ngày 22/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Cà Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Cà Văn T từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 04 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Cà Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng, Cà Văn T nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Nội dung vụ án: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại tổ dân phố 8, thị trấn Mường Ảng, huyện MA, tỉnh Điện Biên Cà Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,25 gam Heroine mục đích để sử dụng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản niêm phong tài liệu đồ vật và biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 05/01/2022 và kết luận giám định số: 175/GĐ – PC 09, ngày 13/01/2022 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 05/01/2022 đối với Cà Văn T.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Cà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện MA, tỉnh Điện Biên, Không được đi học mà ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 2009 xây dựng gia đình với chị Lường Thị K và có 01 người con. Bị cáo là một người chồng, người cha nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy, Hội đồng xét xử cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và khi được tổ công tác động viên bị cáo đã tự giác giao nộp chất ma túy nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát xét thấy phù hợp nên hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

. Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,15 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái không rõ tên, tuổi, địa chỉ vào ngày 05/01/2022. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.

Đối với anh Lò Văn Đ là người bị cáo khai đã đưa tiền cho bị cáo vào ngày 05/1/2022 để đi mua ma tuý. Quá trình điều tra Đ không có mặt tại địa phương, CQĐT đã tách ra để xử lý sau nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

. Về án phí: Bị cáo Cà Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Cà Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 01 năm 2022.

Không phạt hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định.

(Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2022).

3. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Cà Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của người vắng mặt về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ