- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hà Quân - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2022/HS-ST Ngày 31-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C M, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lường Thị Phẩm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Đức Đường;
2. Bà Bùi Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Lan Anh, Thư ký Toà án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Trưởng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2022/HSST, ngày 05 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Hà Q, sinh năm 1972; Nơi sinh: Huyện TT, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn NV, xã TM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 02; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân H (Nguyễn Văn H) và bà Nguyễn Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị Th, có 01 con; Tiền sự: Không;
Tiền án: 03
- Ngày 15/5/1998, bị TAND thị xã BK, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù về tội "Cưỡng đoạt tài sản của công dân" theo Bản án số 14/HSST.
- Ngày 24/5/2006, bị TAND thị xã B K, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Bản án số 35/2006/HSST.
- Tại Bản án số 25/2010/HSST ngày 06/8/2010 của TAND huyện CM, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" với tình tiết định khung "Phạm tội nhiều lần", "Tái phạm nguy hiểm" theo điểm b, p khoản 2 Điều 194/BLHS và 08 năm tù về tội: "Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy" theo tình tiết định khung "Phạm tội nhiều lần", "Đối với nhiều người", "Tái phạm nguy hiểm" theo điểm b, d, đ khoản 2 Điều 198/BLHS.
Ngày 26/10/2021, bị cáo chấp hành xong bản án trên, ngày 30/3/2022 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bản án trên chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/3/2022 đến 08/4/2022 thì hủy bỏ biện pháp nhăn chặn, tại ngoại từ đó đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 30/3/2022, tại khu vực cầu S H, xã N H, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Hà Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu được tại túi quần trước bên phải Q đang mặc trên người 01 gói nhỏ được gói bằng 02 lớp, lớp ngoài là ni lon màu trắng, lớp tiếp là giấy lót bên trong bao thuốc lá một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong là chất màu trắng dạng cục và bột nghi là ma túy, niêm phong trong phong bì ký hiệu Q.
Trên cơ sở đó, hồi 15 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và khu vực phụ cận của Nguyễn Hà Q, kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại biên bản mở, đóng niêm phong, cân xác định khối lượng ngày 30/3/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn xác định: Mẫu chất màu trắng dạng cục và dạng bột có trong phong bì ký hiệu Q có khối lượng là 0,153 gam, niêm phong trong phong bì ký hiệu Q1 gửi giám định; phong bì và giấy gói cũ được niêm phong trong phong bì ký hiệu Q2.
Tại bản Kết luận giám định số: 26/KTHS-MT ngày 08/4/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột có trong phong bì ký hiệu Q1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, có khối lượng là 0,153 gam. Sau giám định, mẫu chất trong phong bì Q1 còn lại là 0,120 gam cùng phong bì, giấy gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu T64 hoàn trả lại cơ quan trưng cầu.
Quá trình điều tra Nguyễn Hà Q khai nhận 01 gói nhỏ chất màu trắng dạng cục và bột thu giữ trên người Q là ma túy, loại Heroine. Số ma túy trên có được là do vào khoảng 07 giờ ngày 30/3/2022, Q đi xe ôm từ nhà đi đến cầu S H, xã N H, sau đó tiếp tục đi xe khách đến ngã ba đường Hồ Chí Minh, thuộc địa phận xã YN, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên, sau đó tiếp tục đi xe ôm đi vào đường Hồ Chí Minh, huyện Đ H, tỉnh Thái Nguyên. Khi đi đến km 10, khu vực gần cây xăng xã T D, huyện Đ H thì Q bảo người chở xe ôm dừng lại chờ, Q đi bộ vào ngõ bên phải đường mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể 01 gói ma túy, loại Heroine với số tiền là 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, Q lại bảo xe ôm chở ra ngã ba đường Hồ Chí Minh thuộc xã Y N, huyện P L, sau đó Q bắt xe khách đi về nhà. Khi Q vừa xuống xe tại khu vực cầu SH, xã N H, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn thì bị Công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại phiên tòa Nguyễn Hà Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về khối lượng ma túy cũng như kết luận giám định.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số: 36/CT-VKSCM ngày 05/8/2022 của VKSND huyện CM truy tố Nguyễn Hà Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
- Tuyên bố Nguyễn Hà Q phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hà Q từ 06 đến 07 năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ thời hạn tạm giữ.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T64, bên trong có 0,120 gam ma túy loại Heroine cùng phong bì, bao gói cũ; 01 phong bì ký hiệu Q2 bên trong có giấy gói tang vật.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là vào khoảng 7 giờ, ngày 30/3/2022, Q một mình di chuyển bằng xe ôm và xe khách từ nhà đến khu vực gần cây xăng xã T D, huyện Đ H, tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây Q mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể 01 gói Heroine với giá là 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, Q tiếp tục di chuyển về đến cầu SH, xã N H, huyện CM thì bị Công an phát hiện và bắt giữ. Bị cáo thừa nhận tại bản án số: 25/2010/HSST ngày 06/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện CM, bị cáo bị xử phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và 08 năm tù về tội "Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy". Cả 02 tội trên đều bị áp dụng tình tiết định khung là: "Tái phạm nguy hiểm", đến nay bản án trên chưa được xóa án tích.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Hà Q vào ngày 30/3/2022 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo tình tiết định khung quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a)…
…o) Tái phạm nguy hiểm;
…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng…".
Cáo trạng số 36/CT-VKSCM ngày 05/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249/BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý về các chất ma tuý của nhà nước, là mối hiểm họa cho cộng đồng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương và phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.
Ngoài hình phạt chính, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Qua xác minh tại địa phương, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung không có tính khả thi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân; bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án kết án và có thời gian dài cải tạo giáo dục. Tuy nhiên sau khi chấp hành án xong trở về địa phương sinh sống được một thời gian bị cáo không tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tái nghiện và thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần có mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xã T D, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên do Q không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, vì vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để xem xét xử lý trong vụ án này.
Về vật chứng trong vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T64, bên trong có 0,120 gam ma túy loại Heroine cùng phong bì, bao gói cũ; 01 phong bì ký hiệu Q2 bên trong có giấy gói cũ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hà Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà Q 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 30/3/2022 đến ngày 08/4/2022).
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T64, bên trong có 0,120 gam ma túy loại Heroine cùng phong bì, bao gói cũ; 01 phong bì ký hiệu Q2 bên trong có giấy gói cũ.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2022 giữa Cơ quan Công an huyện CM và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bắc Kạn;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND tỉnh Bắc Kạn;
- VKSND huyện CM;
- Công an huyện CM;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM;
- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án, VT.
Lường Thị Phẩm
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lường Thị Phẩm
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lường Thị Phẩm
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện CM; - Công an huyện CM; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lường Thị Phẩm |