vanban.org

Bản án 48/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 23/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Vũ Công V, Cao Xuân T, Vũ Đình Lâm H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt: Bị cáo Vũ Công V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Công V và đồng bọn - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Vũ Công V, Cao Xuân T, Vũ Đình Lâm H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HS-ST
Ngày 23-6-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Lê Thanh Nam

Các Hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Lan và ông Phạm Văn Quang

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị May - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Bình Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: bà Dƣơng Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 45/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/HSST-QĐ ngày 14/6/2022; Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 15/TB-TA ngày 15/6/2022 đối với các bị cáo:

1. Vũ Công V, sinh năm 1999; nơi sinh: xã V, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng; nơi cƣ trú: thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Công T và bà Vũ Thị L; có vợ là Nguyễn Thị T1 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 02/02/2016, Công an huyện Bình Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc, bị cáo chấp hành xong ngày 03/02/2016; bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/01/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang. Có mặt.

2. Cao Xuân T, sinh năm 1999; nơi sinh: xã V, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng; nơi cƣ trú: thôn L, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn C (đã chết) và bà Vũ Thị T2; vợ là Vũ Thị L1 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/01/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.

3. Vũ Đình Lâm H, sinh ngày 03/6/2004; nơi sinh: xã V, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng; nơi ĐKHKTT: làng G, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi cƣ trú: thôn B, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình N và bà Đinh Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/01/2022 đến ngày 13/01/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Cao Xuân T và Vũ Đình Lâm H: Ông Phạm Văn Đ - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nƣớc tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm Mai Xuân T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu T, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng.

2. Anh Vũ Đình C1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng.

3. Anh Bùi Thế T3, sinh ngày 24/12/2005; địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng.

4. Anh Vũ Duy T4, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng.

(Những ngƣời làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Ngày 15/12/2021, Vũ Công V đi bộ từ nhà đến khu vực bờ sông Sặt thuộc Khu H, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng gặp và mua của ngƣời đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 2 túi ma túy đá, loại Ketamine đƣợc đựng trong 2 túi nilon có kích thƣớc mỗi túi là (11 x 7)cm và 18 viên ma túy dạng kẹo với giá 15.000.000 đồng. Sau khi mua đƣợc ma túy, V mang về nhà ở của mình tại thôn N, xã V, huyện B (V ở cùng nhà với bà ngoại là Phạm Thị C2) rồi chia nhỏ 2 túi ma túy Ketamine thành 19 phần bằng nhau, đựng trong 19 túi nilon có cùng kích thƣớc (3 x 2)cm rồi cất giấu ở trong nhà, mục đích để bán lại cho các con nghiện kiếm lời.

Ngày 17/12/2021, V gặp và bảo Cao Xuân T và Vũ Đình Lâm H bán thuê ma túy, V sẽ trả cho T 15.000.000 đồng/tháng, H 7.000.000 đồng/tháng. V sẽ trực tiếp liên hệ thỏa thuận giá, địa điểm giao ma túy với khách mua, còn T và H trực tiếp đi giao cho khách theo hƣớng dẫn và thu tiền về cho V. Ngoài ra nếu T, H có khách mua riêng thì V quy định giá bán là 1.500.000 đồng/1 chỉ ma túy loại Ketamine, 350.000 đồng/01 viên ma tuý dạng kẹo, nếu T và H bán đƣợc giá cao hơn thì sẽ đƣợc hƣởng phần chênh lệch. Sau khi thống nhất thỏa thuận xong, V đƣa 15 túi ma túy Ketamine và 18 viên ma túy kẹo cho T cất giấu để bán cho khách, còn lại 4 túi ma túy Ketamine, V cất giấu để sử dụng và bán lại cho các con nghiện có nhu cầu.

Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 08/01/2022, Phạm Mai Xuân T2, sinh năm 1986, trú tại khu T, thị trấn K, huyện B gọi điện thoại từ số 0936.120.100 đến số 0968.879.999 của V hỏi mua 02 viên ma tuý dạng kẹo và 01 chỉ ma túy loại Ketamine, V đồng ý bán cho T2 với giá 2.400.000 đồng. Sau đó, V liên lạc với T qua ứng dụng Telegram, gửi số điện thoại của T2 để T liên hệ địa điểm giao ma túy. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T gọi điện thoại từ số 0979.571.894 của mình đến số 0936.120.100 của T2 để hẹn địa điểm giao ma túy, đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày T và T2 gặp nhau tại khu đô thị T, thị trấn K nhƣ đã hẹn. Tại đây, T đƣa cho T2 02 viên ma tuý dạng kẹo và 01 chỉ ma túy loại Ketamine, T2 trả T 2.400.000 đồng, T cầm tiền về đƣa lại cho V.

Sáng ngày 10/01/2022, V đƣa tiếp cho T 02 túi ma tuý Ketamine, còn 02 túi V cất giấu và đã sử dụng hết. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Vũ Đình C1, sinh năm 1999 ở thôn B, xã V, huyện B gọi điện thoại từ số 0962.651.481 đến số 0769.213.536 của Vũ Đình Lâm H hỏi mua 01 chỉ ma tuý Ketamine, H đồng ý bán cho C1 với giá 1.800.000 đồng và hẹn C1 đến đƣờng tỉnh lộ 392, gần trƣờng Trung học phổ thông BG để lấy. H nhắn tin cho V và T qua ứng dụng Telegram để lấy ma tuý bán cho khách, V đồng ý bảo T đƣa ma tuý cho H. H điều khiển xe mô tô BKS 34B4-374.40 (mƣợn của bố đẻ là anh Vũ Đình N) đi từ nhà đến đoạn đƣờng QL 38 cũ thuộc K, thị trấn K gặp T, T đƣa cho H 01 túi ma tuý loại Ketamine nhƣ đã hẹn. Khoảng 20 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô đến đoạn đƣờng tỉnh lộ 392 thuộc thôn P và đƣa gói ma túy cho C1, C1 đƣa 1.800.000 đồng cho H. Ngay lúc đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trên tay phải C1 01 túi nilon màu trắng kích thƣớc (3 x 2)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (C1 khai là ma túy loại Ketamine vừa mua đƣợc của H); thu giữ trên tay phải của H số tiền 1.800.000 đồng (H khai nhận là tiền C1 vừa trả); quản lý 01 xe mô tô BKS 34B4-374.40 của H.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Công V, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ 01 túi nilon màu đen, bên trong chứa 01 cân điện tử màu đen nhãn hiệu POCKET SCALE, kích thƣớc (12 x 8)cm, khi mở nắp phát hiện các chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt cân và mặt trong của nắp cân; 02 túi nilon đều có kích thƣớc (11 x 7)cm, có nẹp cài viền màu đỏ, bên trong chứa các chất tinh thể màu trắng và 10 túi nilon đều có kích thƣớc (3 x 2,1)cm; 01 túi nilon kích thƣớc (21 x 15)cm bên trong chứa 20 túi nilon nhỏ cùng kích thƣớc (3 x 2,1)cm; 01 túi nilon kích thƣớc (10 x 7)cm bên trong chứa 04 túi nilon cùng kích thƣớc (3 x 2,1)cm. V khai nhận các túi nilon, cân điện tử là dụng cụ chia và đựng ma túy của V; các chất tinh thể bám dính tại cân điện tử là ma túy loại Ketamine bám dính trong quá trình V chia ma túy, chất tinh thể bám dính trong 2 túi nilon là ma túy loại Ketamine còn lại sau khi V đã sử dụng trƣớc đó.

Ngày 12/01/2022, Vũ Đình Lâm H tự nguyện giao nộp điện thoại nhãn hiệu IphoneX lắp sim số 0769.213.536; ngày 14/01/2022, Vũ Công V tự nguyện giao nộp điện thoại Iphone X màu trắng lắp sim số 0968.879.999, Cao Xuân T tự nguyện giao nộp điện thoại Iphone 6 Plus lắp sim số 0979.571.894.

Kết luận giám định số 167/KLGĐ-PC09 ngày 13/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon đƣợc niêm phong trong phong bì ghi thu của Vũ Đình C1 gửi giám định có khối lƣợng là 0,084g là ma túy, loại Ketamine. Hoàn lại đối tƣợng giám định 0,043g ma túy Ketamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định (Bút lục số 16).

Kết luận giám định số 168/KLGĐ-PC09 ngày 13/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon thu đƣợc trong quá trình khám xét chỗ ở của Vũ Công V, gửi đến giám định có tổng khối lƣợng là 0,040g là ma túy, loại Ketamine; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt cân điện tử thu đƣợc trong quá trình khám xét chỗ ở của Vũ Công V, gửi đến giám định có khối lƣợng là 0,005g là ma túy, loại Ketamine. Hoàn lại đối tƣợng giám định 0,023g ma túy loại Ketamine, 02 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định và 01 cân điện tử.

Ketamine - STT 35 Danh mục III, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 06-5-2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo Vũ Công V, Cao Xuân T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Vũ Đình Lâm H về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

- Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định VKSND huyện Bình Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ bản Cáo trạng đã nêu là có căn cứ.

- Ngƣời bào chữa cho bị cáo Cao Xuân T và Vũ Đình Lâm H xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố các bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo T) và khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo H) là có căn cứ; nhất trí với quan điểm luận tội vị đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của các bị cáo, bị cáo T thuộc hộ nghèo, bị cáo H khi phạm tội là ngƣời dƣới 18 tuổi, các bị cáo giữ vai trò thứ yếu trong vụ án, lƣợng ma túy các bị cáo mua bán thấp, .... cho các bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt.

- Đại diện VKSND huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về điều luật áp dụng: áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Công V; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Xuân T; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 90; khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Đình Lâm H; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án đối với cả 03 bị cáo. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Công V, Cao Xuân T, Vũ Lâm Đình Hùng phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Xử phạt: bị cáo Vũ Công V 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/01/2022; bị cáo Cao Xuân T 7 năm 3 tháng đến 7 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/01/2022; bị cáo Vũ Đình Lâm H 2 năm 3 tháng đến 2 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/01/2022. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Vũ Công V 15.000.000 đồng sung quỹ nhà nƣớc. Về vật chứng: Tịch thu số tiền 1.800.000 đồng của bị cáo Vũ Đình Lâm H và truy thu số tiền 2.400.000 đồng của bị cáo Vũ Công V, nộp vào ngân sách nhà nƣớc. Tịch thu tiêu hủy: 0,066g ma túy loại Ketamine; 03 vỏ túi nilon màu trắng, 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 cân điện tử, 01 túi nilon màu đen, 1 túi nilon kích thƣớc (21 x 15)cm, 1 túi nilon kích thƣớc (10 x 7)cm và 34 vỏ túi nilon cùng kích thƣớc (3 x 2,1)cm. Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nƣớc 03 điện thoại di động bị cáo V, T và H. Về án phí: Buộc các bị cáo V, H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp nhau, phù hợp với chính lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 08/01/2022, tại Ngã 4 khu đô thị TB thuộc thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dƣơng, Vũ Công V và Cao Xuân T có hành vi bán trái phép cho Phạm Mai Xuân T2 01 túi ma túy đá (loại Ketamine) và 02 viên ma túy dạng kẹo (MDMA) với số tiền là 2.400.000 đồng. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/01/2022, tại đƣờng tỉnh lộ 392 thuộc thôn P, xã TH, huyện B, V, T và Vũ Đình Lâm H có hành vi bán trái phép 0,084g ma túy loại Ketamine cho Vũ Đình C1 với giá 1.800.000 đồng, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện còn thu giữ của V 0,045g ma túy loại Ketamine, mục đích V cất giấu để bán kiếm lời.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nƣớc về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nhƣng vì mục đích kiếm lời, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo Vũ Công V, Cao Xuân T 02 lần thực hiện hành vi bán ma túy cho Phạm Mai Xuân T2 và Vũ Đình C1 nên Viện kiểm sát nhân huyện Bình Giang truy tố 2 bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” là có căn cứ. Bị cáo Vũ Đình Lâm H 01 lần thực hiện hành vi bán 0,084 gam ma túy loại Ketamine cho Vũ Đình C1 nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Vũ Công V là ngƣời rủ rê, chỉ đạo việc bán ma tuý nên giữ vai trò thứ nhất; Cao Xuân T giữ vai trò thứ 2 và Vũ Đình Lâm H giữ vai trò sau cùng trong vụ án.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo V có nhân thân xấu; các bị cáo T, H có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự. Cả 03 bị cáo đều thành khẩn khai báo nên đều đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo V xúi giục ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải buộc các bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Đối với bị cáo Vũ Đình Lâm H khi phạm tội dƣới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Vũ Công V. Đối với bị cáo Cao Xuân T thuộc đối tƣợng hộ nghèo, Vũ Đình Lâm H khi phạm tội dƣới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho bị cáo V vào ngày 15/12/2021, quá trình điều tra không xác định đƣợc là ai, ở đâu; bà Phạm Thị C không biết việc bị cáo V cất giấu ma túy trong nhà; ông Vũ Đình N cho bị cáo H mƣợn xe nhƣng không biết H dùng vào việc phạm tội, do vậy không có căn cứ xử lý.

Quá trình điều tra, các bị cáo Vũ Công V, Cao Xuân T khai: Ngoài việc bán ma túy cho T2 và C1 thì T và V còn bán trái phép chất ma túy cho ngƣời tên N2 ở thị xã M, tỉnh Hƣng Yên và đối tƣợng tên H2. Tài liệu điều tra chƣa xác định đƣợc nhân thân, địa chỉ của N2 và H2, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với hành vi mua ma túy của Vũ Đình C1, Phạm Mai Xuân T2, mục đích để sử dụng nhƣng chƣa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Công V, Cao Xuân T và Vũ Đình Lâm H, ngày 11/4/2022 Công an huyện Bình Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 1.800.000 đồng thu giữ của bị cáo Vũ Đình Lâm H, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nƣớc;

Đối với số tiền 2.400.000 đồng của bị cáo Vũ Công V, đây là tiền bị cáo V bán ma túy cho Phạm Mai Xuân T2 mà có nên cần truy thu nộp vào ngân sách nhà nƣớc.

Đối với 0,066g ma túy loại Ketamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định), đây là vật nhà nƣớc cấm lƣu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 03 vỏ túi nilon màu trắng, 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 cân điện tử nhãn hiệu POCKET SCALE, 01 túi nilon màu đen, 1 túi nilon kích thƣớc (21 x 15)cm, 1 túi nilon kích thƣớc (10 x 7)cm và 34 vỏ túi nilon cùng kích thƣớc (3 x 2,1)cm, đây là các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng của Vũ Công V, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng của Cao Xuân T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen của Vũ Đình Lâm H, các bị cáo sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nƣớc.

Đối với xe mô tô BKS 34B4-374.40 thuộc quyền sở hữu của ông Vũ Đình N (bố đẻ bị cáo H), ông N không biết H sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội nên ngày 02/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Vũ Đình N là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo Vũ Công V, Vũ Đình Lâm H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Cao Xuân T bị kết án nhƣng thuộc đối tƣợng hộ nghèo nên đƣợc miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Công V;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Xuân T;

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 98; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Đình Lâm H;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với cả 03 bị cáo.

1. Tuyên bố: các bị cáo Vũ Công V, Cao Xuân T, Vũ Đình Lâm H phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt:

- Bị cáo Vũ Công V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/01/2022.

- Bị cáo Cao Xuân T 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/01/2022.

- Bị cáo Vũ Đình Lâm H 27 (hai mƣơi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/01/2022.

3. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền 15.000.000đ (mƣời lăm triệu đồng) đối với bị cáo Vũ Công V sung quỹ nhà nƣớc.

4. Về vật chứng:

Tịch thu số tiền 1.800.000 đồng của bị cáo Vũ Đình Lâm H, nộp vào ngân sách nhà nƣớc;

Truy thu số tiền 2.400.000 đồng của bị cáo Vũ Công V, nộp vào ngân sách nhà nƣớc.

Tịch thu tiêu hủy: 0,066g ma túy loại Ketamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 03 vỏ túi nilon màu trắng, 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 cân điện tử nhãn hiệu POCKET SCALE, 01 túi nilon màu đen, 1 túi nilon kích thƣớc (21 x 15)cm, 1 túi nilon kích thƣớc (10 x 7)cm và 34 vỏ túi nilon cùng kích thƣớc (3 x 2,1)cm.

Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nƣớc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng của Vũ Công V, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng của Cao Xuân T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen của Vũ Đình Lâm H.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 08/6/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang).

5. Về án phí: Các bị cáo Vũ Công V, Vũ Đình Lâm H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cao Xuân T.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ