vanban.org

Bản án 48/2022/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Minh Đ.

Về án phí: Anh Bùi Minh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006379 ngày 02 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu. Anh Đ đã nộp đủ án phí DSST. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Minh Đ và…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Minh Đ - Vang Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Minh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HNGĐST
Ngày: 27-5-2022
V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hoài Nam.

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Vi Văn Duẩn.

Ông Lý Văn Huân.

- Thư ký phiên toà: Ông Tăng Thành Vương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Bùi Minh Đ. Sinh năm: 1988.

Trú tại: Thôn K, xã AT, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Vang Thị H. Sinh năm: 1987.

Trú tại: Bản BC, xã CH, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/3/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Bùi Minh Đ trình bày: Anh và chị Vang Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại UBND xã AT, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi lấy nhau thì vợ chồng cùng nhau đi làm thuê tại tỉnh Bình Dương. Chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì giữa hai vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, chị H đuổi anh ra khỏi phòng trọ, sau đó chuyển đi ở trọ nơi khác và cắt đứt liên lạc với anh. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, quan hệ vợ chồng không còn tình cảm và không còn hạnh phúc. Vì vậy, anh Đ làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Vang Thị H.

Về quan hệ con cái: Anh Bùi Minh Đ và chị Vang Thị H chưa có con chung, không ai có con riêng và cũng không nhận nuôi con nuôi.

Về tài sản: Anh Bùi Minh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải cho chị Vang Thị H. Tuy nhiên, chị H không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Qua xác minh tại UBND xã CH được biết, sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án, các Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải thì cán bộ UBND xã CH đã không thực hiện được việc tống đạt cho chị Vang Thị H vì chị H không có mặt tại địa phương. Xác minh tại Ban công an xã CH được biết, chị Vang Thị H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản BC, xã CH, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An. Hiện nay, chị H không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu, làm gì. Xác minh tại mẹ đẻ của chị H (Bà Vi Thị H) thì được biết, chị H hiện nay đang đi làm ăn xa và gia đình không rõ địa chỉ. Sau khi anh Đ thông báo về việc làm đơn ly hôn thì gia đình cũng đã báo cho chị H nhưng vì đi làm ăn xa nên chị H không thể về để tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án và chuẩn bị xét xử, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho anh Đ được ly hôn chị Vang Thị H. Áp dụng điều 147 BLTTDS, buộc anh Đ phải chịu án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa anh Bùi Minh Đ và chị Vang Thị H là “Ly hôn”. Vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Bùi Minh Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị Vang Thị H không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án. Đây là lần thứ hai Tòa án mở phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Xét thấy, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 BLTTDS; điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Bùi Minh Đ và chị Vang Thị H.

Về nội dung:

Quan hệ tình cảm: Hôn nhân giữa anh Bùi Minh Đ và chị Vang Thị H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn và nay đã sống ly thân. Vì vậy, anh Đ nhất quyết ly hôn. Thấy rằng, hôn nhân của anh Đ và chị H không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của anh Đ, cho anh Bùi Minh Đ được ly hôn với chị Vang Thị H, điều này là phù hợp với thực tế cuộc sống và cũng là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Quan hệ con cái: Anh Đ và chị H không có con chung và không nhận nuôi con nuôi. Do đó, không xem xét.

Quan hệ tài sản: Anh Bùi Minh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản. Vì vậy, nên miễn xét.

Về án phí: Cần buộc anh Bùi Minh Đ phải chịu án phí DSST về ly hôn.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; các điểm a, b khoản 2 Điều 227; các khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 147 BLTTDS;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Minh Đ. Cho anh Bùi Minh Đ được ly hôn với chị Vang Thị H.

2. Về án phí: Anh Bùi Minh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006379 ngày 02 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu. Anh Đ đã nộp đủ án phí DSST.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Minh Đ và chị Vang Thị H có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ