vanban.org

Bản án 48/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị C; Chị Trần Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị C được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 người con chung tên Nguyễn Thị Q, sinh ngày 19/3/2007 và Nguyễn L, sinh ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị C"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÁNH LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14-7-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Bình.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thế Hà và Bà Huỳnh Thị Yến.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lương Thị Tâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 279/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị C, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn 07, xã G, huyện TL, tỉnh BT;

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn 07, xã G, huyện TL, tỉnh BT;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Cháu Nguyễn Thị Q, sinh ngày 19/3/2007; Nơi cư trú: Thôn 07, xã G, huyện TL, tỉnh BT;

3.2 Cháu Nguyễn L, sinh ngày 14/6/2009; Nơi cư trú: Thôn 07, xã G, huyện TL, tỉnh BT;

Tại phiên tòa vắng mặt chị Trần Thị C (có đơn xin xét xử vắng mặt); Vắng mặt anh Nguyễn Văn C; cháu Nguyễn Thị Q, cháu Nguyễn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh C sau thời gian yêu thương tìm hiểu nhau thì tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện TL vào ngày 04/7/2007 nhưng không làm lễ cưới theo phong tục. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên thời gian gần đây hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm lối sống, anh C thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình, đánh đập chị C nhiều lần, vợ chồng thường bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày cũng như chăm con cái ăn học, làm ăn phát triển kinh tế gia đình, mâu thuẫn hai vợ chồng thường xuyên trầm trọng, kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn đối với anh C.

- Về con chung: Chị Trần Thị C và anh Nguyễn Văn C có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Q, sinh ngày 19/3/2007; Nguyễn L, sinh ngày 14/6/2009. Hiện nay các con đang chung sống cùng chị C. Chị C đề nghị Tòa án giải quyết giao 02 người con chung cho chị C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Chị C không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị C.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị C xác định là vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần yêu cầu anh C phải có mặt tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh BT để trình bày ý kiến, trình bày lời khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng anh C cố tình trốn tránh, không có mặt theo giấy triệu tập. Tòa án không thực hiện được việc lấy lời khai của bị đơn.

Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cháu Nguyễn Thị Q, cháu Nguyễn L trình bày:

Cháu tên Nguyễn Thị Q, cháu Nguyễn L hiện nay ba mẹ cháu đang làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện TL, cháu Q, cháu L có nguyện vọng được chung sống cùng với mẹ vì mẹ là người yêu thương, chăm sóc cháu Q, cháu L nhiều hơn.

Tòa án đã mở phiên hòa giải vào ngày 18/3/2022 để các đương sự hòa giải đoàn tụ với nhau; Tại phiên hòa giải vắng mặt anh C nên không thể tiến hành hòa giải được, sau đó chị C đã có đơn từ chối hòa giải, đề nghị xét xử vụ án.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, tỉnh BT phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

- Về con chung: Đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Thị Q, sinh ngày 19/3/2007; cháu Nguyễn L, sinh ngày 14/6/2009 cho chị C được quyền nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; Anh C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị C.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị C yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con; Các đương sự đều không có yêu cầu nào khác; Vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, không cần phải ủy thác tư pháp; Bị đơn có nơi cư trú tại: Thôn 07, xã G, huyện TL, tỉnh BT nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TL, tỉnh BT theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt, đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn có đơn xin từ chối hòa giải nên theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu độc lập, được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa; Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

3.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị C và anh Nguyễn Văn C tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 04/7/2007 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện TL, tỉnh BT nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Mặc dù chị C và anh C đã có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau, việc kết hôn là tự nguyện nhưng sau đó hai bên phát sinh mâu thuẫn, đến nay chị C yêu cầu ly hôn. Do đó yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị C là phù hợp pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

3.2 Về con chung: Chị C và anh C có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Q, sinh ngày 19/3/2007 và Nguyễn L, sinh ngày 14/6/2009; Chị C đề nghị Tòa án giải quyết giao 02 người con chung cho chị C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Chị C không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị C.

Xét thấy: Hiện nay cháu Q, cháu L đang sống cùng chị C, cháu Q, cháu L có nguyện vọng được chung sống cùng chị C nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho chị C nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con cho đến khi đủ 18 tuổi; anh C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị C. Anh C không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3.3 Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị C; Chị Trần Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị C được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 người con chung tên Nguyễn Thị Q, sinh ngày 19/3/2007 và Nguyễn L, sinh ngày 14/6/2009 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị Trần Thị C.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Trần Thị C phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007631 ngày 17/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TL. Chị Trần Thị C đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự; Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ