vanban.org

Bản án 48/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyễn T B N. Nguyễn T B N được ly hôn với Huỳnh H D.

Về con chung và cấp dưỡng: Nguyễn T B N được tiếp tục nuôi con tên Huỳnh N T M, sinh ngày 05/10/2020. Huỳnh H D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyễn T B N. Nguyễn T B N được ly hôn với Huỳnh H D.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 48 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26-8-2022
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Quang Kim Cúc;

2. Ông Nguyễn Phát Triển.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Vinh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022 tại hội trường Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2022/TLST-HNGĐ, ngày 30/5/2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 337/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 09/8/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn T B N, sinh năm: 2001 (có mặt)

HKTT: 1091/5, ấp Tân Quới, xã P H, huyện L V, tỉnh Đ T.

2. Bị đơn: Huỳnh H D, sinh năm: 2000. (vắng mặt)

HKTT: 342C/2, ấp Tân Phong, xã P H, huyện L V, tỉnh Đ T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các lời khai có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà nguyên đơn Nguyễn T B N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2019, Nguyễn T B N và Huỳnh H D quen biết và sống chung với nhau, sau đó đăng ký kết hôn ngày 15/01/2020 tại Ủy ban nhân dân xã P H, huyện L V, tỉnh Đ T; Quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẩn, do bất đồng quan điểm thường sống, Huỳnh H D không lo làm ăn, vợ chồng ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, hiện nay vợ chồng không thể hàn gắn được. Nguyễn T B N thấy không còn khả năng đoàn tụ, Nguyễn T B N nhất quyết yêu cầu được ly hôn với Huỳnh H D.

Về con chung vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh N T M, sinh ngày 05/10/2020, Nguyễn T B N yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con và không yêu cầu Huỳnh H D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung Nguyễn T B N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung Nguyễn T B N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Huỳnh H D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyễn T B N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa Nguyễn T B N với Huỳnh H D, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã P H, huyện L V, tỉnh Đ T cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Huỳnh H D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai không có lý do. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa Nguyễn T B N và Huỳnh H D có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống Nguyễn T B N và Huỳnh H D có phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, Huỳnh H D không lo làm ăn, không quan tâm vợ con, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, Nguyễn T B N nhất quyết xin ly hôn. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho Huỳnh H D, Huỳnh H D không đến Tòa án cũng không có văn bản phản bác gì đối với yêu cầu của nguyên đơn điều đó thể hiện bị đơn tự từ bỏ quyền phản bác của mình. Hội đồng xét xử đã động viên nhưng Nguyễn T B N vẫn nhất quyết yêu cầu ly hôn với Huỳnh H D, xét thấy mâu thuẫn của Nguyễn T B N với Huỳnh H D ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyễn T B N là có căn cứ, đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh N T M, sinh ngày 05/10/2020, Nguyễn T B N yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con. Nguyễn T B N trực tiếp nuôi con, việc giao con cho ai nuôi phải xem xét điều kiện, nguyện vọng của con, Nguyễn T B N đang trực tiếp nuôi dạy con tốt, có đủ điều kiện nuôi con, T M chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần chấp nhận yêu cầu của Nguyễn T B N là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Huỳnh H D không trực tiếp nuôi con, phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng Nguyễn T B N không yêu cầu Huỳnh H D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản khi ly hôn: Nguyễn T B N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ khi ly hôn: Nguyễn T B N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tiền tạm ứng án phí, án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyễn T B N. Nguyễn T B N được ly hôn với Huỳnh H D.

2. Về con chung và cấp dưỡng:

Nguyễn T B N được tiếp tục nuôi con tên Huỳnh N T M, sinh ngày 05/10/2020. Huỳnh H D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Nguyễn T B N và các thành viên trong gia đình không được cản Huỳnh H D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung khi ly hôn.

3. Án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm:

Nguyễn T B N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0006115, ngày 26/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2022). Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ