- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lê Thành "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 48/2021/HSST Ngày: 24/5/2021 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang và ông Võ Thanh Đức
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Yến Nhi - Thư ký Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:
NGUYỄN LÊ T - Sinh năm: 1991, tại Bình Định; Nơi cư trú: Khu phố 5, phường A, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động biển; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Nguyễn Trung T, sinh năm: 1954 (Chết) và bà Lê Thị B, sinh năm: 1960; Vợ con: Chưa có; Tiền án - Tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09 ngày 23/02/2021 của Cơ quan CSĐT công an thị xã L (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 08/02/2021, tại khu vực xóm Xình thuộc khu phố 11, phường B, thị xã L, Công an phường B bắt quả tang Nguyễn Lê T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên phải, phía trước của T 02 đoạn ống nhựa màu cam (loại ống hút nước giải khát) được cắt ngắn, hàn kín 02 đầu, kích thước (1 x 2)cm, bên trong có chứa chất dạng rắn. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 xe môtô hiệu Sirius, biển số 86N1-5963. Sau đó, lực lượng Công an phường B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để xử lý theo quy định.
Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Lê T khai nhận: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 08/02/2021, Nguyễn Lê T điều khiển xe môtô hiệu Sirius, biển số 86N1-5963 (xe thuộc sở hữu của T) đi xuống khu vực xóm Sình thuộc khu phố 11, phường B, thị xã L. Tại đây, T gặp và mua của đối tượng tên Vũ (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 tép ma túy, với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào túi quần bên phải, phía trước và chuẩn bị điều khiển xe môtô đi về, thì bị lực lượng Công an phường B kiểm tra, thu giữ 02 tép ma túy như trên
Tại bản Kết luận giám định số 191/KLGĐ-PC09 ngày 10/2/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: "Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1160 gam; là Heroine".
Vật chứng vụ án, gồm: Đối với 02 đoạn ống nhựa màu cam đã cắt lấy mẫu và 0,0317 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 191 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận đã được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L quản lý.
Đối với xe môtô hiệu Sirius, biển số 86N1 - 5963 và 01 giấy đăng ký xe máy biển số 86N1 - 5963, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã trả cho Nguyễn Lê T vào ngày 23/02/2021.
Tại bản cáo trạng số: 48/CT-VKS ngày 19/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L truy tố bị cáo Nguyễn Lê T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Lê T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê T, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Phạt: Bị cáo Nguyễn Lê T, mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
* Về biện pháp tư pháp; Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 191 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.
- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Lê T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã L truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
- Bị cáo Nguyễn Lê T không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã L.
- Bị cáo Nguyễn Lê T nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Nguyễn Lê T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập và phản ánh trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 08/02/2021, bị cáo Nguyễn Lê T điều khiển xe môtô hiệu Sirius, biển số 86N1-5963 (thuộc sở hữu của T) đi xuống khu vực xóm Sình thuộc khu phố 11, phường B, thị xã L. Tại đây, T gặp và mua của đối tượng tên Vũ (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 tép ma túy, với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào túi quần của mình, chuẩn bị điều khiển xe đi về, thì bị lực lượng Công an phường B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật.
Tại Bản kết luận giám định số 191/KLGĐ-PC09 ngày 10/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: "Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1160 gam; là Heroine".
Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Lê T đã đủ yếu tố cấu T tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát thị xã L truy tố bị cáo Nguyễn Lê T về tội danh, điều luật áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Lê T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, thế nhưng bị cáo không chăm chỉ lao động tạo thu nhập để lo cho bản thân, phụ giúp gia đình, mà sa vào con đường nghiện ngập. Mặc dù bị cáo nhận thức rõ ma tuý là chất gây nghiện, là hiểm họa của xã hội, tệ nạn ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của mình, bị cáo đã bất chấp pháp luật, đi mua ma túy cất giấu trong người để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Lê T là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo, bị cáo Nguyễn Lê T khai tên Vũ (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L tiếp tục xác minh, làm rõ nếu đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo T khẩn, ăn năn hối cải; Nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mất sớm, mẹ bệnh tật đi lại khó khăn, bị cáo là lao động chính. Do đó, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì được niêm phong số 191 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. Xét, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe môtô hiệu Sirius biển số 86N1 - 5963 và 01 giấy đăng ký xe máy biển số 86N1 - 5963. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Lê T vào ngày 23/02/2021, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lê T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Lê T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê T, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
[3] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
[4] Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) phong bì được niêm phong số 191 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã L và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lê T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Lê T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. *Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - CA tỉnh Bình Thuận; - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; - VKSND thị xã L; - THADS thị xã L ; - Công an thị xã L; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS - Lưu Tòa án; - UBND địa phương nơi BC cư trú. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM* Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Từ Quốc Thái Bình |