vanban.org

Bản án 48/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 14/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng M T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 54 của BLHS và khoản 5 Điều 328 của BLTTHS: Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng 08 ngày tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 10/6/2021; đến ngày xét xử sơ thẩm bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù; trả tự d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng M T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 48/2021/HSST
Ngày: 14 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhung;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Đại Dương và bà Đỗ Thị Thu Hà;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Hồng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thuân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2021, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng M T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 05 tháng 4 năm 1990, tại Điện Biên; nơi cư trú: Tổ 6, phường T, thành phố Đ, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Bác S; nơi làm việc: Trung tâm T thành phố Đ; chức vụ: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Đặng Xuân B và bà Nguyễn Thị P; vợ: Quàng Thị H; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Sử dụng ma túy; bị tạm giữ từ ngày 10/6/2021, sau đó bị tạm giam cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Tài M; sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm 5, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố H (vắng mặt);

+ Ông Trần Dũng S; sinh năm 1984; địa chỉ: Số nhà 54, tổ dân phố 15, phường M, thành phố Đ, tỉnh Đ (vắng mặt);

+ Ông Nguyễn Đình L; sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện S, thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 10/6/2021, tại khu vực tổ dân phố 03, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ; khi bị kiểm tra, bị cáo Đặng M T đã lấy từ túi quần quần đang mặc, nộp cho tổ công tác Công an thành phố Điện Biên Phủ một chiếc tẩu thủy tinh, một bao thuốc lá bên trong có 01 túi nilon đen chứa các hạt tinh thể màu trắng, bị cáo khai đó là ma túy đá, bị cáo mua của một người không rõ lai lịch tên là C, tại một quán Bar bị cáo không nhớ tên ở quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, với giá 500.000 đồng; bị cáo và C đã sử dụng một phần, số còn lại bị cáo đem về nhà cất giấu. Đến ngày 10/6/2021 bị cáo đem theo người để sử dụng, thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật và chiếc xe máy gắn biển kiểm soát 29X5-390.03 bị cáo đang sử dụng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như đã nêu trên.

2. Các vấn đề khác:

Chiếc xe máy đã tạm giữ là xe bị cáo mượn của ông Trần Dũng S; ông S không biết việc phạm tội của bị cáo; xe máy này ông S mua ở chợ trời tại Hà Nội của một người không quen biết đã lâu và đề nghị được nhận lại xe của mình.

Cơ quan điều tra đã gửi số tinh thể màu trắng và chiếc xe máy thu giữ của bị cáo đi giám định.

- Bản kết luận giám định số 606/GĐ-PC09 ngày 13/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,48 gam và là chất ma túy loại Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy theo số thứ tự 323, mục IIC, danh mục II Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; sau giám định hoàn lại 0,45 gam Methamphetamine mẫu vật.

- Bản kết luận giám định số 878/GĐ-PC09 ngày 30/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Hàng chữ số khung RLHHC09075Y556442 và số hàng chữ số máy HC09E-5159728 chiếc xe máy đã tạm giữ của bị cáo là hàng chữ số nguyên thủy.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.

3. Cáo trạng số 161/CT-VKSTPĐBP ngày 28/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của BLHS xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; vật chứng là ma túy còn lại tịch thu để hủy; xe máy và biển kiểm soát đã tạm giữ trả lại cho chủ sở hữu.

4. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo không làm chủ được bản thân nên đã phạm tội, xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Bị cáo Đặng M T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,48 gam Methamphetamine trong túi quần đang mặc, với mục đích để sử dụng và đã bị Công an thành phố Điện Biên Phủ phát hiện bắt giữ vào lúc 16 giờ 40 phút ngày 10/6/2021 tại tổ dân phố 03, phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Khoản 1 Điều 249 BLHS quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...c) ...Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam".

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điều luật đã viện dẫn trên.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma tuý trái phép; cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; tích cực giúp cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm và nhờ đó đã khởi tố một vụ án khác; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 BLHS cần áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; loại hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với các bị cáo là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định theo Điều 54 BLHS và nhẹ hơn mức hình phạt mà Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo thì ngoài thu nhập từ lương ra, bị cáo không có thu nhập nào khác, không có tài sản gì đáng kể và hiện đang phải nuôi hai con nhỏ, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng và các vấn đề khác:

Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu để hủy cùng vật dùng để gói ma túy và chiếc tẩu không còn giá trị. Bị cáo không biết lai lịch người bán ma túy cho mình, không nhớ tên quán Bar nơi mình mua ma túy, nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra xác định: Biển kiểm soát 29X5-390.03 là của ông Nguyễn Tài M, xe đăng ký biển này có số khung RLHHC1253FY312199 và số máy HC12E7312080, không trùng số khung và số máy nguyên thủy của xe đã tạm giữ; ông M khai xe của mình bị mất trộm, nhưng xe đã tạm giữ không phải xe của ông M. Xe đã tạm giữ đăng ký tên ông Nguyễn Đình L; ông L khai xe này ông L chỉ đăng ký hộ, không phải xe của ông L. Bị cáo khai xe máy đã bị tạm giữ là xe bị cáo bị cáo mượn của ông Trần Dũng S; ông S khai xe mình mua ở chợ trời đã lâu, giấy tờ đã bị mất và không biết về hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, tạm giao chiếc xe máy đã tạm giữ của bị cáo cho ông S và trả biển kiểm soát xe số 29X5-390.03 cho ông M.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng M T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 54 của BLHS và khoản 5 Điều 328 của BLTTHS: Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng 08 ngày tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 10/6/2021; đến ngày xét xử sơ thẩm bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù; trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm khác.

3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu để hủy 0,45 gam Methamphetamine và 01 túi nilon, 01 vỏ bao thuốc lá, 01 chiếc tẩu thủy tinh.

Tạm giao cho ông Trần Dũng S xe máy Honda Wave có số khung RLHHC09075Y556442 và số máy HC09E-5159728, cho đến khi có quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trả cho ông Nguyễn Tài M biển kiểm soát xe máy số 29X5-390.03.

(Biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/12/2021); nếu những người này vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ