- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2021/HSST Ngày 16 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khương Đặng Khánh Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng
Ông Dương Trường Giang
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2021 tại hội trường Ủy ban nhân dân xã Yên Thạch, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2021/HSST ngày 21/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2021/QĐXXST-HS ngày 04/11/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung H, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1990; nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1962 và bà Đoàn Thị N, sinh năm 1961; vợ: Lưu Thị H, sinh năm 1993 (đã ly hôn), con: có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/12/2018 Công an huyện Lập Thạch xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (mua bán số đề) phạt tiền 200.000 đồng. Hiệp đã nộp phạt xong ngày 11/01/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đoàn Thị N, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bị nghiện chất ma túy từ năm 2018 đến nay nên khoảng 10 giờ 15 phút ngày 11/8/2021, Nguyễn Trung H trú tại thôn Đ, xã X, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88D1-128.40 đến khu vực Đồi Nhà Bò thuộc thôn Mi, xã Y, huyện Sông Lô mua ma túy để sử dụng. Khi đến đây, H gặp và mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy giá 300.000 đồng, H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái đi lên đồi bạch đàn gần đó tìm chỗ để sử dụng. Đúng lúc này, Công an huyện Sông Lô ập đến bắt quả tang. H hốt hoảng vứt gói ma túy trong lòng bàn tay xuống nền đất gần vị trí H đứng nhưng vẫn bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ 01 gói nhỏ, gói ngoài bằng giấy bạc (bên trong chứa chất bột màu trắng) niêm phong trong bì thư ký hiệu A1, Hiệp khai nhận đây là ma túy heroin mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tại Kết luận giám định số 2003/KLGĐ ngày 14/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2672g, loại heroine”. Hoàn lại 0,2156g cùng toàn bộ bao gói .
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hiệp tại khu vực Đồi Nhà Bò thuộc xã Y, huyện Sông Lô do Hiệp không biết rõ tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được nên không có cơ sở điều tra làm rõ.
* Vật chứng vụ án thu giữ: 0,2672g ma túy, loại heroine, cơ quan giám định hoàn lại 0,2156gam cùng toàn bộ bao gói. 01 chiếc xi lanh loại 3ml, 01 lọ nước cất 2ml. Số tiền 400.000 đồng của H không liên quan đến hành vi phạm tội; 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 88D1-128.40 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (số IME 353845080620678) xác định là tài sản của bà Đoàn Thị N (mẹ đẻ H), H sử dụng vào việc đi mua ma túy bà N không biết.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trung H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 51/CT - VKS ngày 19/10/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Nguyễn Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Nguyễn Trung H, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo H. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo H. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 11/8/2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận. Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được sai phạm về hành vi đã thực hiện và xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về chăm sóc bố mẹ và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/8/2021, tại gần khu vực Đồi Nhà Bò thuộc thôn M, xã Y, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc, Nguyễn Trung H đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy heroin có khối lượng 0,2672g trong lòng bàn tay trái, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Sông Lô phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Hội đồng xét xử khẳng định: Hành vi nêu trên của Nguyễn Trung H đã phạm vào tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”
…c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được những ảnh hưởng xấu của ma túy đến sức khỏe của bản thân và cộng đồng xã hội nhưng do bị cáo là người nghiện ma túy nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn làm tệ nạn ma túy ngày càng lan rộng và phát triển mạnh hơn trong đời sống. Từ tệ nạn ma túy là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bố đẻ bị cáo là người có công được nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang nên bị cáo được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H là người nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 0,2156 gam ma túy Heroine do cơ quan giám định hoàn lại là chất Nhà nước cấm tàng trữ và 01 xi lanh loại 3ml, 01 lọ nước cất 2ml là công cụ để Hiệp sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 400.000 đồng của H không liên quan đến hành vi phạm tội cần xem xét trả lại cho H nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 88D1-128.40 mang tên Triệu Thị N trú tại thôn H, xã T, huyện Lập Thạch chị N đã bán cho bà Đoàn Thị N (là mẹ đẻ của H) trú tại thôn Đ, xã X và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (số IME 353845080620678) xác định là tài sản của bà Đoàn Thị N. H sử dụng vào việc đi mua ma túy bà N không biết nên cần xem xét trả lại cho bà Nc.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho H tại khu vực Đồi Nhà Bò thuộc xã Y, huyện Sông Lô do H không biết rõ tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được nên không có cơ sở điều tra làm rõ.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 11/8/2021).
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,2156 gam ma túy Heroine cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại và 01 xi lanh loại 3ml, 01 lọ nước cất 2ml .
Trả lại Nguyễn Trung H số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại bà Đoàn Thị N 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 88D1-128.40 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 .
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Sông Lô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòaán nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc -Viện kiểm sátnhân dân huyện Sông Lô; -Viện kiểm sátnhân dântỉnhVĩnh Phúc; -CQTHAHS CA tỉnhVĩnh Phúc; - SởTưpháp tỉnhVĩnhPhúc; - Trạitạm giam CA tỉnh Vinh Phúc; -Chi cụcThihành ándânsự huyện Sông Lô; -Công anhuyện Sông Lô; -Uỷ ban nhândân xãXuân Hòa,huyện LậpThạch; -Bị cáo; NgườiTGTT; - Lưu hồ sơ; Văn phòng. 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Khương Đặng Khánh Hằng Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn Khương Đặng Khánh Hằng |