vanban.org

Bản án 48/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 11/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu Tốp và Nguyễn Văn Thái phạm tội “Đánh bạc”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 12 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ (từ ngày 16/6/2021 đến ngày 24/6/2021) được quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại buộc bị cáo phải chấp hành là 11 tháng 03 ngày. Thời … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu Tốp và Nguyễn Văn Thái phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu huỷ; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2021/HS-ST
Ngày 11 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Bà Tưởng Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thanh Diện và ông Nguyễn Quốc Đồng

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Kiều Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: ông Trần Ngọc Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu T, sinh ngày 09/3/1992, nơi sinh: thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Trần Thị V; có vợ: Hồ Thị H và 04 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/6/2021 đến ngày 24/6/2021 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Lê Văn T, sinh ngày 07/5/1988, nơi sinh: thị xã B, tỉnh Quảng Bình

Nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: thợ cơ khí; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức T và bà Nguyễn Thị T; có vợ: Nguyễn Thị L và 03 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/6/2021 đến ngày 24/6/2021 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đinh Thế T, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1979; nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1965; nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 16/6/2021, Nguyễn Hữu T nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức làm chủ cá độ các trấn bóng đá thuộc khuôn khổ vòng chung kết giải bóng đá EURO 2020 diễn ra tại các nước Châu Âu. Sau khi nảy sinh ý định, T chuẩn bị 03 bảng thống kê (bản phô tô) tỷ lệ cá cược các trận bóng đá diễn ra vào tối ngày 16/6/2021 và rạng sáng ngày 17/6/2021. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T đi đến nhà của Lê Văn T ở cùng thôn, đặt vấn đề mượn nhà ở của T để làm địa điểm ghi cá độ bóng đá. T nói với T “Vợ của em mới đẻ, cho em mượn nhà ghi tỷ số cá độ bóng đá với, ghi được thì em cho ít tiền hoa hồng”, T đồng ý. Sau khi đặt vấn đề xong, T đi về nhà của mình, đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T mang theo 03 bảng thống kê tỷ lệ cá độ bóng đá rồi đi bộ đến nhà của T. Khi đến, T đi vào trong nhà gặp T rồi lấy 01 bàn học sinh, 01 quyển vở ô ly cùng các bảng thống kê tỷ lệ cá độ bóng đá đặt ở giữa phòng khách nhằm để cho những người khách tới nhà T chơi biết việc T ghi cá độ bóng đá để đặt cược. Quá trình T ngồi ở phòng khách tại nhà ở của T, có một số người khách tới chơi và đặt cược tỷ số trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Nga và Phần Lan, diễn ra vào lúc 20 giờ. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi T đang nhận cược cho Đinh Thế T, tỷ số trận đấu bóng đá giữa Đội tuyển Nga và Phần Lan với các tỷ số 2 - 0 và 2 - 1, mỗi tỷ số 200.000 đồng, thì bị lực lượng Công an thị xã B phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hữu T, Lê văn T về hành vi đánh bạc và thu giữ vật chứng liên quan.

Kết quả điều tra đã xác định: Nguyễn Hữu T đã tổ chức ghi cá độ bóng đá vòng chung kết EURO 2020 giữa Đội tuyển Nga và Phần Lan. Hình thức đánh và cách tính thắng thua như sau: Khi có khách đặt cược thì T ghi tên người chơi (nếu là người quen biết, nếu không quen biết thì để trống) và hình thức đặt cược, số tiền đặt cược vào quyển vở ô ly. Sau khi có kết quả trận bóng T sẽ căn cứ vào bảng tỷ lệ thắng thua của nhà cái Châu á (T có được khi xin của một người không rõ danh tính, địa chỉ) để tính toán chi trả cho người ghi cá độ thắng và được hưởng số tiền người chơi thua. Ngoài ra T quy định riêng đối với những người khách đặt cược là các tỷ số có tỷ lệ ăn gấp trên 100 lần số tiền đặt cược thì nếu thắng chỉ được nhận về số tiền bằng 100 lần số tiền đặt cược (ví dụ: Tỷ số 3-3, thắng gấp 194 lần số tiền đặt cược nhưng trên thực tế nếu thắng chỉ nhận được gấp 100 lần). Nguyễn Hữu T đã nhận cá cược bóng đá giữa Đội tuyển Nga và Phần Lan từ một số người chơi với tổng số tiền 7.480.000 đồng (Trong đó, xác định được danh tính cụ thể 05 người, số người đánh còn lại Tốp không biết cụ thể là ai và bao nhiêu người). Cụ thể như sau: Nguyễn Văn Đ đặt cược với tổng số tiền là 110.000 đồng, Nguyễn Văn T đặt cược với tổng số tiền là 180.000 đồng, Nguyễn Văn Q đặt cược với tổng số tiền là 80.000 đồng, Lê Văn Đ đặt cược với tổng số tiền là 150.000 đồng, Đinh Thế T đặt cược với tổng số tiền là 400.000 đồng.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã thu giữ 01 cuốn vở học sinh ô ly, nhãn hiệu Hải Tiến, kích thước (17x24)cm, bên trong cuốn vở có 02 trang giấy ghi thể hiện việc T nhận ghi cá độ trận bóng đá giữa Đội tuyển Nga và Đội tuyển Phần Lan với người chơi và và số tiền 7.480.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; 01 cái bàn học sinh, mặt bàn bằng gỗ, kích thước (41x58) cm, mặt bàn có in nhiều nhân vật hoạt hình với nhiều màu sắc khác nhau, chân bàn làm bằng kim loại sơn màu trắng, đã qua sử dụng; 01 bút bi làm bằng nhựa màu xanh - trắng, dài 14cm, nhãn hiệu Thiên Long, đã qua sử dụng; 03 tờ giấy A4 (thường được gọi là bảng thống kê tỷ lệ cá độ bóng đá) có in nội dung tỷ lệ cá độ bóng đá và thu giữ trên người của Nguyễn Hữu T 5.350.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B xác định số tiền 5.350.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam không liên quan đến tội phạm nên đã trả lại cho Nguyễn Hữu T.

Liên quan trong vụ án còn có các đối tượng Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Q, Lê Văn Đ và Đinh Thế T, là những người tham gia cá độ bóng đá với Nguyễn Hữu T. Do tang số đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng trên chưa có tiền án, tiền sự về các tội đánh bạc, gá bạc và tổ chức đánh bạc nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã lập hồ sơ chuyển cho Công an thị xã B xử phạt vi phạm hành chính bắng hình thức phạt tiền.

Tại bản Cáo trạng số: 45/CT-VKSBĐ, ngày 10/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình, truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu T và Lê Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ (từ ngày 16/6/2021 đến ngày 24/6/2021)

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ (từ ngày16/6/2021 đến ngày 24/6/2021)

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Nguyễn Hữu T và Lê Văn T vì thu nhập không ổn định.

Các bị cáo nhất trí với tội danh và khung hình phạt như bản Cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ, ngày 16/6/2021, tại nhà ở của Lê Văn T tại thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, các bị cáo Nguyễn Hữu T và Lê Văn T đã thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức hình thức làm chủ cá độ các trận bóng đá thuộc khuôn khổ vòng chung kết giải bóng đá EURO 2020 diễn ra taị các nước Châu Âu với tổng số tiền là 7.480.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã có đầy đủ yếu tố cấu thành của tội: “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đối với các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo đã thực sự gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo là những người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi và khả năng nhận thức để biết được hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều bị xã hội lên án, vì nó sẽ gây ra nhiều tác hại và hệ lụy cho xã hội cũng như cho chính gia đình và bản thân các bị cáo. Nhưng do hám lợi nên các bị cáo đã bất chấp, coi thường pháp luật để thực hiện hành vi đánh bạc. Do đó, cần căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự để quyết định cho các bị cáo một mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, nhằm đấu tranh ngăn chặn triệt để tệ nạn cờ bạc trong xã hội nói chung và trên địa bàn thị xã Ba Đồn nói riêng.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Hữu T là người chủ động, trực tiếp làm chủ ghi tỷ số cá độ bóng đá và đã mượn nhà của Lê Văn T để thực hiện hành vi đánh bạc nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Đối với bị cáo Lê Văn T, tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc, nhưng khi nghe Nguyễn Hữu T đề xuất mượn nhà ở của mình để ghi tỷ số cá độ các trận bóng đá, T không từ chối và đồng ý ngay nên T cũng phải chịu trách nhiệm sau T với vai trò đồng phạm trong vụ án

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cần căn cứ vào các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo mức độ và điều kiện mà mỗi bị cáo được hưởng.

Về hình phạt:

Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo tốt, nên xét thấy chưa cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà cần áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự để cho các bị cáo được học tập cải tạo tại địa phương là cũng đủ nghiêm và phù hợp với chính sách nhân đạo của pháp luật nhà nước ta. Các bị cáo có nghề nghiệp nhưng thu nhập không ổn định nên không áp dụng biện pháp khấu trừ một phần thu nhập của các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

Về vật chứng vụ án: Đối với số tiền 7.480.000 đồng thu giữ tại sòng bạc là tiền sử dụng vào việc phạm tội nên cần căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với 01 cái bàn và 01 bút bi là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội khoá 14

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu Tốp và Nguyễn Văn Thái phạm tội “Đánh bạc”

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 12 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ (từ ngày 16/6/2021 đến ngày 24/6/2021) được quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại buộc bị cáo phải chấp hành là 11 tháng 03 ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Q nhận được quyết định thi hành án và bản án.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 09 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ (từ ngày 16/6/2021 đến ngày 24/6/2021) được quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại buộc bị cáo phải chấp hành là 08 tháng 03 ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Q nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Nguyễn Hữu T và Lê Văn T vì thu nhập không ổn định.

Giao bị cáo Nguyễn Hữu T và Lê Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 7.480.000 đồng hiện đang được tạm gửi tại tài khoản tạm gửi số: 3949.0.1120250.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn tại Kho bạc Nhà nước thị xã B, tỉnh Quảng Bình; tịch thu tiêu huỷ 01 cái bàn, 01 bút bi (Vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B và Chi cục thi hành án dân sự thị xã B ngày 17/9/2021)

4. Về án phí: Xử buộc các bị cáo Nguyễn Hữu T và Lê Văn T phải nộp mỗi bị cáo 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt tại phiên toà) hoặc trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án (đối với người vắng mặt tại phiên toà)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ