- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Thế T và đồng phạm -“Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. - phạ…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tô Thế T, Phạm Thị L, Phạm Thị H, Phạm Thị L1, Nguyễn Thị G phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2021/HS-ST Ngày 06 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu
Ông Lê Tiến Thấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Kỳ Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Tô Thế T - sinh năm 1994; tại huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T1, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở trước khi bị bắt: thôn N, xã Đ2, thành phố T2, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tô Văn B, sinh năm 1962 và bà: Phùng Thị T3, sinh năm 1965; chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/3/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.
2. Phạm Thị L - sinh năm 1986, tại huyện K, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T4, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở trước khi bị bắt: thôn N, xã Đ2, thành phố T2, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn N1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1960; Chồng đã ly hôn: Anh Tạ Hồng P, sinh năm 1982; có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/3/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.
3. Phạm Thị H - sinh năm 1984; tại huyện K, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T4, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở trước khi bị bắt: thôn N, xã Đ2, thành phố T2, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Thế C, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1958 (là bị cáo trong cùng vụ án); Chồng: anh Đỗ Ngọc T5, sinh năm 1984; Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/3/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.
4. Phạm Thị L1 - sinh năm 1984; tại huyện K, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 9, xã C1, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở trước khi bị bắt: thôn N, xã Đ2, thành phố T2, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn N1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1960; Chồng: anh Hoàng Thế T6, sinh năm 1981; Có 04 con: con lớn nhất sinh năm 2008; con nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/3/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.
5. Nguyễn Thị G - sinh năm 1958, tại huyện K, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 8, xã C1, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở trước khi bị bắt: thôn N, xã Đ2, thành phố T2, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Quang M (đã chết) và bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1931; Chồng: ông Phạm Thế C, sinh năm 1960; Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/3/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1960; Trú tại: thôn T4, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Anh Đỗ Ngọc T5, sinh năm 1984; Trú tại: thôn T4, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Bà Tô Thị T7, sinh năm 1955; Trú tại: thôn T1, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Anh Tô Mạnh T8, sinh năm 1989; Trú tại: thôn T1, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1960; Trú tại: thôn T4, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Chị Dương Thị T9, sinh năm 1971; Trú tại: thôn N, xã Đông Hòa, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Anh Phạm Thế V, sinh năm 1986; Trú tại: thôn 8, xã C1, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên mạng xã hội Facebook và Youtube có một tài khoản cá nhân mang tên là “Mẹ Báich Nhiên” thường xuyên đăng tải video và phát trực tiếp (livestream) hoạt động của một người phụ nữ tự xưng là người sinh ra vạn vật trong cuộc sống, là mẹ của thiên nhiên, mẹ của loài người, giáng trần để cứu loài người thoát khỏi u mê, lầm đường lạc lối, lôi kéo mọi người học theo đạo pháp có tên là “Pháph Môn Cần Khaii Vữngh Trụ Luậtt Làm Trính Tâm” (Pháp môn cần khai vững trụ luật làm chính tâm) do người phụ nữ này lập ra.
Năm 2019, Tô Thế T, Phạm Thị L, Phạm Thị H, Phạm Thị L1 và Nguyễn Thị G thường xuyên xem các video, livestream do người phụ nữ này đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội. T, L, H, L1, G thấy người phụ nữ này thường xuyên rao giảng về nhân sinh quan, về tiêu cực, bất công trong xã hội, thường có lời lẽ xúc phạm, phỉ báng, chửi bới đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cá nhân, tổ chức, tín ngưỡng, tôn giáo... Thấy người phụ nữ này cùng quan điểm sống với mình nên T, L, H, L1 và G theo dõi, kết bạn, nhắn tin, gọi điện qua facebook với người phụ nữ này. Sau đó, T, L, H, L1 và G được người phụ nữ trên giới thiệu tham gia nhóm “Pháph Môn Cần Khaii Vữngh Trụ Luậtt Làm Trính Tâm” và trong thời gian tham gia “pháp môn”, tham gia các buổi livestream của người phụ nữ này, các bị cáo đã quen biết nhau, sau đó các bị cáo thường xuyên nhắn tin, liên lạc với nhau. T, L, H, L1 và G được người phụ nữ trên tài khoản facebook “Mẹ Báich Nhiên” hướng dẫn phương pháp “đánh trận” là phải in ảnh của một số nhân vật như lãnh tụ Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, một số nhân vật tín ngưỡng, tôn giáo ra giấy, sau đó sẽ dùng những công cụ như dao, kéo, búa, rìu, cào (gọi là “pháp khí”) để đâm, băm, bổ, chém vào những hình ảnh, đồng thời lăng mạ, xúc phạm, nguyền rủa, chửi bới họ, sau đó bật lửa đốt những hình ảnh của họ, toàn bộ quá trình đó sử dụng điện thoại di động quay lại thành video rồi đăng lên mạng xã hội.
Để thực hiện việc “đánh trận”, Tô Thế T ra chợ Bo ở thành phố T2 mua 01 con dao kim loại, cán gỗ; 01 búa kim loại; 01 kéo bằng kim loại tay cầm bọc nhựa màu đỏ, vàng; 01 bồ cào 7 chân (sau đó T đã cắt bớt 4 chân) và mua 01 máy in đen trắng. T đã in những hình ảnh theo hướng dẫn của người phụ nữ trên tài khoản facebook “Mẹ Báich Nhiên” rồi đem ra khu vực Quảng trường Bác Hồ với nông dân, khu vực cánh đồng gần khu công nghiệp S, thành phố T2 dùng bồ cào, búa, dao, kéo đâm, bổ vào các hình ảnh trên và dùng lời lẽ thô tục chửi bới, xúc phạm, dùng bật lửa đốt những hình ảnh đó rồi dùng điện thoại di động nhãn hiệu LG L8X của T quay lại. T đã lập 02 kênh trên trang Youtube là “TÂM LIK VÀ NHÂNN SINHH SỐNGG” (đăng ký bằng tài khoản email: [email protected]) và “Phim Tâm Lik Thế Kỉ 21” (đăng ký bằng tài khoản email: [email protected]). Tại kênh Youtube “TÂM LIK VÀ NHÂNN SINHH SỐNGG”, T đăng tải 234 video do T tải về từ tài khoản facebook có tên “Mẹ Báich Nhiên”, “Trungh Báich Ân” của người phụ nữ tự xưng là “Mẹ Báich Nhiên”. Tại kênh Youtube “Phim Tâm Lik Thế Kỉ 21”, T đăng tải 334 video “đánh trận” do T tự quay bằng điện thoại và tải về từ các tài khoản Facebook của các cá nhân khác. Mục đích đăng tải video lên 02 kênh Youtube là cho mọi người xem. T còn sử dụng tài khoản Facebook “Ngộ Tâm” để chia sẻ các video trên 02 kênh Youtube của mình. Trong đó, ngày 07/01/2021, tại khu đất trống gần khu công nghiệp S, xã T10, thành phố T2, T sử dụng rìu bổ vào hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Phật Thích ca, Chúa Giê-su đồng thời dùng lời nói chửi bới, mạt sát, bôi nhọ, xúc phạm Đảng Cộng sản Việt Nam và các cá nhân, tổ chức tôn giáo trên, đăng lên kênh Youtube “Phim Tâm Lik Thế Kỉ 21”, thời lượng dài 33 phút 22 giây, tính đến ngày 07/5/2021 có 9 lượt xem.
Để thực hiện việc “đánh trận”, Phạm Thị L mua 02 rìu bằng kim loại; 02 búa đinh; 01 dao kim loại dài 33cm; 01 kéo kim loại; 01 chuông bằng kim loại màu vàng; 01 dùi gỗ. L ra các cửa hàng photocopy trên thành phố T2 thuê in các hình ảnh do người phụ nữ trên tài khoản facebook “Mẹ Báich Nhiên” hướng dẫn rồi ra khu vực vắng người gần các khu công nghiệp thành phố T2 dùng các dụng cụ trên chém, chặt, băm, bổ vào các hình ảnh, đồng thời dùng lời thô tục chửi bới, xúc phạm, dùng bật lửa đốt những hình ảnh rồi dùng điện thoại di động nhãn hiệu REALME 7PRO quay lại. L đăng tải các video đó lên 02 tài khoản Facebook “Nhậtt Hoàng Pháph”, “Nhậtt Pháph Báich” và tài khoản Youtube “Tin Mới 24 Giờ Luật Làm Chính Tâm” do L tạo lập. L đã đăng tải 232 video “đánh trận” lên kênh Youtube này, trong đó có 1 số video có nguồn gốc từ tài khoản Facebook “Mẹ Báich Nhiên”. L còn sử dụng kênh Youtube “Hoàng Thiện Tâm” đăng tải 212 video “đánh trận” được tải về từ Facebook của các thành viên trong nhóm.
Phạm Thị H mua 01 rìu bằng kim loại; 01 chuông kim loại màu vàng; 01 thanh kim loại màu trắng, hình trụ; đường kính 0,7cm và ra các cửa hàng photocopy trên thành phố T2 thuê in các hình ảnh dùng để “đánh trận” rồi ra khu vực vắng người gần các khu công nghiệp, thành phố T2, dùng các dụng cụ trên chém, chặt, băm, bổ vào các hình ảnh, đồng thời dùng lời thô tục chửi bới, xúc phạm, dùng bật lửa đốt những hình ảnh rồi dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro và OPPO Reno 2 của H quay lại. H đăng tải các video đó lên 02 tài khoản Facebook “Nhậtt Thiện Tâm” và “Nhật Pháph Báich” của H, trong đó: Ngày 10/03/2020 H dùng cào bổ, chặt vào hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, nguyên Thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, dùng lời nói chửi bới mạt sát, xúc phạm, bôi nhọ dùng điện thoại di động quay lại rồi đăng lên tài khoản Facebook “Nhậtt Thiện Tâm”, tính đến ngày 07/5/2021 có 03 lượt like, 338 lượt xem.
Phạm Thị L1 được Phạm Thị L cung cấp rìu kim loại, Tô Thế T in, cung cấp ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Phật Thích Ca, Chúa Giê-su và hướng dẫn cách “đánh trận”. Tại khu vực Công ty Cổ phần chăn nuôi V1 ở xã T11, huyện T12, tỉnh Thái Bình, L1 dùng rìu kim loại chặt, chém vào các hình ảnh trên, đồng thời dùng lời lẽ thô tục tục chửi bới, xúc phạm, dùng bật lửa đốt những hình ảnh rồi dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6+ của L1 quay lại, sau đó được L giúp đăng lên mạng qua kênh Youtube “Tin Mới 24 Giờ Luật Làm Chính Tâm” do L tạo lập, trong đó: Ngày 7/3/2021, trên kênh youtube “Tin Mới 24 Giờ Luật Làm Chính Tâm” của Phạm Thị L đăng tải 01 video Phạm Thị L1 “đánh trận” có tiêu đề “7 tháng 3, 2021” với thời lượng 36 phút 09 giây, video này tính đến ngày 07/5/2021 có 12 lượt xem.
Nguyễn Thị G sử dụng kéo kim loại, que hương có sẵn của gia đình dùng hình ảnh Phật Thích ca được in sẵn trên vỏ bó hương đem ra vườn nhà mình ở thôn 8, xã C1, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, dùng kéo đâm vào hình ảnh Phật Thích ca, đồng thời dùng lời nói thô tục chửi bới, xúc phạm, dùng bật lửa đốt những hình ảnh đó rồi dùng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 của G quay lại, sau đó phát lên tài khoản Facebook “Nhậtt Hanhh Ân” của G. Tại tài khoản này G đăng tải 04 video “Đánh trận” gồm: Ngày 01/02/2021, đăng tải 02 đoạn video “đánh trận” tại khu đất trong vườn nhà G ở xã C1, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, trong đó có 01 video dài 05 phút 59 giây, video này tính đến ngày 07/5/2021 có 03 lượt bày tỏ cảm xúc, 16 lượt chia sẻ. Ngày 05/02/2021, đăng tải 01 đoạn video “đánh trận” tại khu đất trong vườn nhà G ở xã C1, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, thời lượng dài 11 phút 37 giây, tính đến ngày 07/5/2021 có 11 lượt bày tỏ cảm xúc, 05 bình luận, 36 lượt chia sẻ, 1599 lượt xem. Ngày 26/02/2021, đăng tải 01 đoạn video “đánh trận” tại khu đất trống ở nhà trọ xã Đ2, thành phố T2, tỉnh Thái Bình, dài 20 phút 10 giây, video này tính đến ngày 07/5/2021 có 04 lượt bày tỏ cảm xúc, 05 bình luận, 11 lượt chia sẻ, 414 lượt xem.
Tháng 02/2021, T, L, L1, H, G rủ nhau thuê nhà trọ ở thành phố T2 để cùng học pháp và tập luyện. T và L đến thuê nhà trọ của bà Dương Thị T9 ở xóm 9, thôn N, xã Đ2, thành phố T2, tỉnh Thái Bình rồi cả nhóm mang công cụ dùng để “đánh trận” về nhà trọ, các bị cáo thống nhất phòng đầu tiên là phòng thờ, phòng thứ 2 là của L và L1, phòng thứ 3 là của H và G, phòng thứ 4 là của T, phòng thứ 5 là bếp. Sau đó T ra chợ B1 mua 01 cào 7 răng, 01 kéo kim loại dài 18 cm; 01 kéo kim loại dài 19,5cm; T, L và H góp tiền mua 01 máy in màu để thuận tiện in ảnh phục vụ “đánh trận”. T phụ trách việc in hình ảnh Bác Hồ, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, một số nhân vật tôn giáo như Phật Thích ca, Chúa Giê-su… Phạm Thị L phụ trách trang trí phòng thờ và mua sắm lễ gồm hương, hoa quả, trà. Hàng tháng, các bị cáo hành lễ tại phòng thờ vào các ngày 05, 10, 15, 20, 25, 30. Hàng ngày, T, L, H đem các hình ảnh đã in cùng các dụng cụ ra khu vực vắng người gần các khu công nghiệp, thành phố T2, Quảng trường Bác Hồ với nông dân để “đánh trận”, mỗi người “đánh trận” ở một vị trí rồi dùng điện thoại di động quay lại phát lên mạng xã hội, điển hình như ngày 10/3/2021, tại khu ruộng gần khu công nghiệp S, L dùng rìu bổ, chém vào hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm và dùng điện thoại di động ghi lại đem về phát trên tài khoản Youtube “Tin Mới 24 Giờ Luật Làm Chính Tâm”, tính đến ngày 28/4/2021 có 235 lượt xem. Còn L1, G tại khu vực phòng trọ, khi vắng người đem hình ảnh đã được T in sẵn và các công cụ ra vườn “đánh trận”, dùng điện thoại di động quay lại, đem về nhà phát lên mạng xã hội.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 14/3/2021, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thái Bình và UBND xã Đông Hòa, thành phố Thái Bình kiểm tra hành chính quản lý toàn bộ dụng cụ dùng vào việc phạm tội.
Kết luận giám định số 02/KLGĐ-SVHTTDL ngày 11/6/2021 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, kết luận:
+ Nội dung các video trong DVD dán nhãn Tô Thế T 1, Phạm Thị L 1, Phạm Thị L1 1, Phạm Thị H 1 “có các nội dung xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”; “việc cố tình nói sai sự thật, chửi bới, sỉ nhục, lăng mạ và có hành động dùng rìu chặt chém, đốt hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Phú Trọng, ông Nguyễn Xuân Phúc và bà Nguyễn Thị Kim Ngân là xâm phạm lợi ích của Đảng Cộng sản, Quốc hội, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cá nhân, các chức danh nêu trên được pháp luật bảo hộ, cụ thể trong các Điều 4, 69, 86, 94 nêu trên trong Hiến pháp 2013. Ngoài ra nhân vật chính trong các video còn có lời nói chửi bới, sỉ nhục, lăng mạ; hành động dùng rìu chặt chém, đốt hình ảnh nhiều tổ chức, cá nhân khác”;
+ Nội dung các video trong DVD dán nhãn Nguyễn Thị G 1 “không có nội dung xâm phạm lợi ích của Nhà nước nhưng có nội dung xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, cụ thể quy định tại khoản 1 Điều 24 Hiến pháp 2013, khoản 3 Điều 5 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo,Văn bản số 6955/BNV-TGCP ngày 28/12/2020 công bố danh mục các tổ chức, tôn giáo, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; trong đó Phật giáo và Công giáo được hoạt động hợp pháp và được Nhà nước bảo vệ theo Điều 3 Luật tín ngưỡng, tôn giáo. “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là đấng tối linh, tối thượng của Phật giáo; Đức Chúa là đấng tối linh, tối thượng của Công giáo. Chính vì thế việc cố tình chửi bới, sỉ nhục, lăng mạ và có hành động dùng kéo đâm, rìu chặt, dao chém, đốt hình ảnh của Đức Phật, Đức Chúa là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tôn giáo và các tổ chức hoạt động tôn giáo được pháp luật bảo vệ”.
- Bản kết luận số 3709/C09-P6 ngày 07/6/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận:
“- Tiếng nói - hình ảnh của người đàn ông trong các file “Ngộ Tâm Đánh Trận Ngày 7 1 2021 DLN25 11 2020 PNL P1_2.mkv; Ngộ Tâm Đánh Trận Ngày 10 1 2021 DLN28 11 2020 PNL P1.mkv; Ngộ Tâm Đánh Trận Ngày 18 1 2021 DLN6 12 2020 PNL P1.mkv” mẫu cần giám định và tiếng nói – hình ảnh của Tô Thế T trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Tiếng nói của người phụ nữ trong các file “01.2.2021 1.mp4; 01.2.2021 2.mp4; 5.2.2021.mp4; 26.2.2021.mp4” mẫu cần giám định và tiếng nói của Nguyễn Thị G trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Hình ảnh của người phụ nữ trong các file “5.2.2021.mp4” mẫu cần giám định và hình ảnh của Nguyễn Thị G trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Tiếng nói – hình ảnh của người phụ nữ trong các file “10 tháng 3, 2021 (1).mp4; 10 tháng 3, 2021 (2).mp4; 10 tháng 3, 2021.mp4” mẫu cần giám định và tiếng nói – hình ảnh Phạm Thị L trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Tiếng nói – hình ảnh của người phụ nữ trong các file “Nhậtt Thiện Tâm.mp4; Phạm Thị H.mp4” mẫu cần giám định và tiếng nói – hình ảnh Phạm Thị H trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Tiếng nói – hình ảnh của người phụ nữ trong “file 7 tháng 3 2021.mp4” mẫu cần giám định và tiếng nói – hình ảnh Phạm Thị L1 trong mẫu so sánh là của cùng một người.
- Không giám định được hình ảnh của Nguyễn Thị G trong các file “01.2.2021 1.mp4; 01.2.2021 2.mp4; 26.2.2021.mp4” mẫu cần giám định, do mẫu cần giám định có chất lượng kém”.
Cáo trạng số 51/CT-VKSTB ngày 12/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố các bị cáo Tô Thế T, Phạm Thị L, Phạm Thị H, Nguyễn Thị G, Phạm Thị L1 về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo quy định tại khoản 1 Điều 331 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Tô Thế T, Phạm Thị L, Phạm Thị H, Phạm Thị L1, Nguyễn Thị G, phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Áp dụng khoản 1 Điều 331, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo G áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt Tô Thế T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 17/3/2021.
+ Xử phạt Phạm Thị L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 17/3/2021.
+ Xử phạt Phạm Thị H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 17/3/2021.
+ Xử phạt Phạm Thị L1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 17/3/2021.
+ Xử phạt Nguyễn Thị G từ 09 tháng đến 01 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 17/3/2021.
+ Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy các công cụ phạm tội của các bị cáo không còn giá trị sử dụng. Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước các công cụ phạm tội khác còn giá trị sử dụng. Trả lại các bị cáo tài sản không liên quan đến tội phạm.
+ Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, là chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo khác, ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, gồm:
- Đơn đề nghị số 11 ngày 19/3/2021 của Văn phòng ban Trị sự Phật giáo Việt Nam tỉnh Thái Bình, Đơn kiến nghị ngày 19/3/2021 của Tòa giám mục Thái Bình, Đơn kiến nghị ngày 19/3/2021 của ông Phạm Huy Nhân, Chủ tịch HĐMV giáo sứ Phương Xá (Bút lục số 158 đến số 161);
- Biên bản vụ việc và Biên bản tạm giữ và niêm phong đồ vật, tài liệu do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thái Bình lập hồi 22 giờ 30 phút và hồi 23 giờ 45 phút ngày 14/3/2021 tại khu trọ của bà Dương Thị T9, sinh năm 1971, trú tại: Xóm 9, thôn N, xã Đ2, thành phố T2, tỉnh Thái Bình (Bút lục số 149 đến số 152);
- Các Biên bản niêm phong và mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của các bị cáo do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thái Bình lập (Bút lục từ số 153 đến số 157; 164 đến số 166);
- Biên bản kiểm tra máy tính, điện thoại; Biên bản sao chép dữ liệu điện tử từ máy tính, điện thoại quản lý của các bị cáo do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thái Bình lập (Bút lục số 167, 168; 173 đến số 208; 211 đến số 213; 217, 218; 223 đến số 228; 235 đến số 237; 240, 241;247, 248, 250; 253, 254; 259; 261 đến số 268; 272 đến số 287)
- Kết luận giám định số 02/KLGĐ-SVHTTDL ngày 11/6/2021 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, kết luận (Kèm theo căn cứ và diễn giải) (Bút lục từ số 517 đến số 519);
- Bản kết luận số 3709/C09-P6 ngày 07/6/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an (Bút lục số 525 đến 526);
- Các bản tự khai và biên bản ghi lời khai của những người làm chứng là bà Nguyễn Thị L2 (bút lục số 474 đến 476); anh Đỗ Ngọc T5 (bút lục số 477 đến số 479); bà Tô Thị T7 (bút lục số 480 đến 481); anh Tô Mạnh T8 (bút lục số 482-483); ông Phạm Văn N1 (bút lục 484 đến 486); bà Dương Thị T9 (bút lục số 490 đến số 492); anh Phạm Thế V (bút lục số 493 đến số 495).
- Cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Từ năm 2019 đến tháng 3 năm 2021, trên địa bàn tỉnh Thái Bình, Tô Thế T, Phạm Thị L, Phạm Thị L1, Phạm Thị H, Nguyễn Thị G đã nhiều lần in và dùng các hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Phật Thích ca, Chúa Giê su rồi dùng rìu, bồ cào, dao, kéo để bổ, chặt, đâm, chém vào các hình ảnh, dùng lời lẽ thô tục chửi bới, xúc phạm, đốt các hình ảnh đó, đồng thời sử dụng điện thoại di động quay lại, sau đó lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân để đăng lên mạng xã hội cho nhiều người xem với mục đích bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân trên.
Vì vậy, các bị cáo đã phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” quy định tại khoản 1 Điều 331 Bộ luật Hình sự.
Điều 331. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
“1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo:
- Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do tiếp cận thông tin... để thực hiện hành vi xâm phạm đến uy tín của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các tổ chức tín ngưỡng tôn giáo, các cá nhân, tạo ra dư luận bức xúc, phẫn nộ trong xã hội, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội của chính quyền cơ sở. Vì vậy cần xử phạt cho các bị cáo mức án tương xứng để cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.
- Tội phạm mà các bị cáo thực hiện có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là những đồng phạm thực hành, tuy nhiên mỗi bị cáo thực hiện hành vi với mức độ khác nhau. Cần đánh giá để cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo như sau: Tô Thế T là người chuẩn bị công cụ phạm tội chủ yếu, như máy tính, máy in, bồ cào, dao, kéo... T trực tiếp in ảnh các nhân vật cần “đánh trận” cho T và cho các bị cáo khác, như vậy T có hành vi giúp sức cho các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời T tích cực nhất trong việc tự quay các video và đăng lên mạng xã hội, ngoài ra T còn tải các video “đánh trận” của các bị cáo khác để đăng tải trên tài khoản Youtube của mình, vì vậy T có vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo L cũng rất tích cực trong việc chuẩn bị công cụ phạm tội, tích cực trong việc tự quay các video và đăng lên mạng xã hội, ngoài ra L còn giúp L1 đăng tải video “đánh trận” của L1 lên mạng xã hội, vì vậy L có vai trò thứ hai. Bị cáo H, L1 tham gia với mức độ thấp hơn, thực hiện việc đánh trận và quay video, đăng lên mạng xã hội số lượng ít hơn, vì vậy có vai trò ngang nhau và xếp thứ ba trong vụ án. Bị cáo G thực hiện hành vi phạm tội ít hơn các bị cáo khác, vì vậy bị cáo G có vai trò sau cùng trong vụ án. Vì vậy các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội đã thực hiện.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo Tô Thế T, Phạm Thị L, Phạm Thị L1, Phạm Thị H, Nguyễn Thị G đều có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo T, L, L1, H, G đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T, L, L1, H, G trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo G có thời gian tham gia lực lượng Thanh niên xung phong nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần buộc các bị cáo phải cải tạo cách ly xã hội với mức hình phạt trong phạm vi đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước công cụ phạm tội của các bị cáo gồm: điện thoại di động, máy tính, máy in, ổ cứng, chân máy quay cơ quan điều tra đã quản lý của các bị cáo. Các công cụ phạm tội khác của các bị cáo gồm: rìu, dao, búa, kéo, sách vở, quần áo, bóng đèn, bát hương… do không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Trả lại bị cáo Tô Thế T, Phạm Thị L tài sản không sử dụng vào việc phạm tội.
Các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tự xưng là “Mẹ Báich Nhiên”, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã có Công văn số 740 ngày 25/3/2021 báo cáo các Cục nghiệp vụ Bộ Công an để tiếp tục truy tìm khi nào bắt được sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tô Thế T, Phạm Thị L, Phạm Thị H, Phạm Thị L1, Nguyễn Thị G phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
[2] Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 331, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo G áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Tô Thế T 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/3/2021.
+ Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/3/2021.
+ Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/3/2021.
+ Xử phạt bị cáo Phạm Thị L1 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/3/2021.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 17/3/2021.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
[3.1] Tịch thu tiêu hủy công cụ phạm tội của các bị cáo, gồm:
* Vật chứng thu giữ của Tô Thế T:
- 01 (một) cào 3 răng bằng kim loại màu trắng, dài 70cm; lưỡi cào rộng 9cm, sâu 16cm; thân cào bằng kim loại rỗng, hình trụ, đường kính 3cm.
- 01 (một) búa đinh, cán gỗ màu trắng đỏ, dài 32cm; đầu búa dài 12cm, mặt đập hình vuông 3cm x 3cm; 1 đầu đập hình dẹp.
- 01 (một) dao kim loại màu trắng, dài 34,5cm; thân dao dài 21,5cm, rộng 8 cm, trên thân có 1 lỗ tròn đường kính 1,2cm, có dòng chữ KIWI-BRAND MADE IN THAILAND; cán dao bằng gỗ dài 13cm.
- 01 (một) kéo kim loại dài 25,5 cm; lưỡi kéo dài 15cm; thân kéo có dòng “Hong Ha”; tay nắm kéo bằng kim loại bọc nhựa, một bên màu đỏ, một bên màu vàng.
- Tài liệu, kinh sách ghi chép nội dung liên quan đến đạo pháp “Mẹ Báich Nhiên” của Tô Thế T: 01 (một) quyển sổ kích thước 10,5 x 14,8 (cm) bìa ngoài có in các dòng chữ “A6 NOTEBOOK BUSINESS”, gáy được đóng bằng các lò xo kim loại màu trắng, bao gồm 164 (một trăm sáu mươi bốn) trang cả bìa.
- 01 sim điện thoại di động số thuê bao 0916.811.656.
* Vật chứng thu giữ của Phạm Thị L:
- 01 (một) rìu bằng kim loại, dài 60 cm, cán bằng kim loại trắng, hình trụ, rỗng, đường kính 3cm; lưỡi rìu bằng thép, chiều rộng lưỡi 9cm, sâu 13cm.
- 01 (một) rìu bằng kim loại, dài 38 cm; cán bằng kim loại trắng, hình trụ rỗng, đường kính 3cm; lưỡi rìu bằng thép, chiều rộng lưỡi 8,8cm, sâu 13cm.
- 01 (một) búa đinh, cán thép vỏ nhựa dài 32cm; đầu búa dài 13cm, mặt đập hình tròn đường kính 2,5cm; 1 đầu đập hình dẹp, cong, có khe nhổ đinh.
- 01 (một) búa đinh, cán thép vỏ nhựa dài 31cm; đầu búa dài 11,5cm, mặt đập hình tròn đường kính 2,5cm; 1 đầu đập hình dẹp, cong, có khe nhổ đinh.
- 01 (một) dao kim loại màu trắng, dài 33cm; thân dao dài 21cm, rộng 10cm, trên thân có dòng chữ JAPAN ASAKH; cán dao bằng gỗ dài 12cm.
- 01 (một) kéo kim loại dài 18 cm; lưỡi kéo dài 9,5cm; thân kéo có dòng chữ “STAINIFSS”, tay nắm kéo bằng kim loại màu vàng.
- 01 (một) chuông bằng kim loại màu vàng, loại để bàn; đường kính 9cm; cao 7,5cm.
- 01 (một) dùi gỗ tiện, dài 17cm; đầu gõ hình trụ dài 8cm, đường kính 2,2cm; tay năm hình trụ dài 9cm, đường kính chỗ rộng nhất 1,5cm.
- Tài liệu, kinh sách ghi chép nội dung liên quan đến đạo pháp “Mẹ Báich Nhiên” của Phạm Thị L:
+ 01 (một) quyển vở kích thước 20x30 (cm) bìa nhiều màu, có in các dòng chữ “THUẬN TIẾN SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO PHÒNG GIÁO DỤC GIÁO ÁN GIÁO VIÊN”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 20,5 x 29,5 (cm) bìa màu xanh trắng, in hình nhiều đồng đồng hồ, có in các dòng chữ “PATTERNS Mã số: 4532 * 300 Trang * A4”, có viết dòng chữ màu đỏ “Phụng Minh Liên”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 19,5 x 26,5 (cm) bìa màu vàng, có in các dòng chữ “SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO.... PHÒNG GIÁO DỤC...... 200tr”, có dán 01 nhãn vở trên nhãn vở bên trong ghi dòng chữ màu xanh “Trải Lòng Nhật Minh Liên”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 18 x 25 (cm) bìa màu vàng, có in các dòng chữ “MINH CHÂU SỔ GIÁO ÁN IIB4 200 trang”, có dán 01 nhãn vở bên trong ghi dòng chữ “Nhật Minh Liên Bài 12”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 18 x25 (cm) bìa màu đỏ, có in các dòng chữ "Vở kẻ ngang 120 trang THIÊN LONG”, có dán 01 nhãn vở bên trong ghi dòng chữ “Đại K MEE BÁICH”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 20 x27 (cm) bìa màu xanh trắng, có in các dòng chữ “SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO........ PHÒNG GIÁO DỤC...... GIÁO ÁN”, có dán 01 nhãn vở bên trong ghi dòng chữ “Nhâtt Miinh Liênn Bài 20”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 17 x25 (cm) bìa in hình một người con gái, có in các dòng chữ “THUẬN TIẾN SUMMER Một Trang Vở Một Tương Lai”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 19 x26 (cm) bìa màu vàng, có in các dòng chữ “SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO......... PHÒNG GIÁO DỤC... GIÁO ÁN”, có ghi dòng chữ màu đỏ “Bài 21”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 19 x26 (cm) bìa màu vàng, có in các dòng chữ “SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO......... PHÒNG GIÁO DỤC... GIÁO ÁN”, có ghi dòng chữ màu đỏ “Bài 22”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 18 x25 (cm) bìa màu tím, có in các dòng chữ “enlivo Vở kẻ ngang 120 trang THIÊN LONG”, có ghi dòng chữ màu xanh “Anh Lòn Văn Dáy”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 18 x25 (cm) bìa màu xanh, có in các dòng chữ “enlivo Vở kẻ ngang 120 trang THIÊN LONG”, có ghi dòng chữ màu đen "Quyển số 2 KHOẢNH KHẮC MÉ DẠY CON”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 18 x26 (cm) bìa màu xanh trắng, có in các dòng chữ “MINH CHÂU SỐ GIÁO ÁN IIB 4”, có ghi dòng chữ màu đen “Bài 8, Bìa 9”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 19 x26 (cm) bìa màu xanh trắng, có in các dòng chữ “SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO...... PHÒNG GIÁO DỤC… GIÁO ÁN", có ghi dòng chữ màu đen “Trải Lòng VẺ MÉ”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 18 x25 (cm) bìa màu xanh, có in các dòng chữ “enlivo Vở kẻ ngang 120 trang THIÊN LONG”, có dán 01 nhãn vở bên trong ghi dòng chữ màu xanh “Nhậtt Minh Liên câu chuyện bạn sen 1”.
+ 01 (một) quyền vở kích thước 18 x25 (cm) bìa màu đỏ, có in các dòng chữ “enlivo Vở kẻ ngang 120 trang THIÊN LONG”, có dán 01 nhãn vở bên trong ghi dòng chữ màu xanh “Tâm Linh Thế Kỉ 21 Nhậtt Minh Liên Bài 55, 42, 57”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 18 x25 (cm) bìa kẻ ngang màu đỏ trắng, có in các dòng chữ “Campus”.
+ 01 (một) quyển sách kích thước 21 x30 (cm) bìa ngoài màu xanh dương, có viết dòng chữ màu xanh “BÀI 63 Tại To”.
+ 01 (một) quyển sách kích thước 21 x29,7 (cm) bìa ngoài màu hồng, có in dòng chữ màu đen “BÀI 37”.
+ 01 (một) quyển sách kích thước 21 x29,7 (cm) bìa ngoài màu hồng, có in dòng chữ màu đen “BÀI 38 MINH LIÊN”.
+ 01 (một) quyển sách kích thước 21 x29,7 (cm) bìa ngoài màu hồng, có in dòng chữ màu đen “BÀI 35 TẠI TO”.
+ 01 (một) quyển sách kích thước 21 x29,7 (cm) bìa ngoài màu hồng, có in dòng chữ màu đen “BÀI 35 NHƯ Ý”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 18 x25 (cm) bìa màu xanh, có in các dòng chữ “enlivo Vở kẻ ngang 120 trang THIÊN LONG”, có dán 01 nhãn vở bên trong ghi dòng chữ màu xanh “Nhật Miinh Liênn Câu chuyện bạn sen 2”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 15x20,5 (cm) bìa in hình ảnh biển đảo hình ảnh bản đồ Việt Nam, in các dòng chữ “Biển Đảo Quê Hương Thuận Tiến”.
+ 01 (một) quyển sổ kích thước 20,5 x 29,5 (cm) bìa ngoài có in họa tiết nhiều màu, có in các dòng chữ “CTY CP VĂN PHÒNG PHẨM HỒNG HÀ” gáy được đóng bằng các lò xo kim loại màu đen.
+ 01 (một) quyển sổ kích thước 21x 29,7 (cm), bìa ngoài màu đỏ góc trên bên phải có in hình ảnh cây màu vàng và được dán mảnh giấy màu trắng ghi dòng chữ “SỔ GHI NHỮNG NGƯỜI THỈNH PHÁPH”.
+ 01 (một) quyển sổ kích thước 21x 29,7 (cm), bìa ngoài màu đỏ có in dòng chữ màu vàng “A4 Grand 210mmx297mm”.
+ 01 (một) quyển vở kích thước 18 x25 (cm) bìa màu tím có in các dòng chữ “enlivo Vở kẻ ngang 120 trang THIÊN LONG” và ghi dòng chữ màu đen “Bài 15 Con đường nào cho Tâm Linh đi”.
* Vật chứng thu giữ của Phạm Thị H:
- 01 (một) rìu bằng kim loại, dài 59 cm; cán bằng kim loại trắng, hình trụ, rỗng, đường kính 3cm; lưỡi rìu bằng thép, chiều rộng lưỡi 9,8cm, sâu 13,3cm.
- 01 (một) chuông bằng kim loại màu vàng, loại để bàn; đường kính 8,5cm; cao 7cm.
- 01 (một) thanh kim loại màu trắng, hình trụ dài 24,5cm; đường kính 0,7cm.
- 04 sim điện thoại di động có số thuê bao 0915.605.716; 0366.444.690; 0921.120.656; 0769.671.555
- Tài liệu, kinh sách ghi chép nội dung liên quan đến đạo pháp “Mẹ Bách Nhiên” của Phạm Thị H:
+ 01 (một) quyển sổ kích thước 20 x29 (cm) bìa màu xanh được bọc bằng giấy nilon bên ngoài có ghi dòng chữ màu trắng “Bài 21”.
+ 01 (một) quyển sổ kích thước 19 x25 (cm) bìa ngoài in hình bông hoa sen được bọc bằng giấy nilon.
+ 01 (một) quyển sổ kích thước 21 x29,7 (cm) bìa ngoài màu xanh lá cây không in chữ viết, hình ảnh gì.
+ 01 (một) quyển sách kích thước 21 x29,7 (cm) bìa ngoài màu hồng, có in dòng chữ màu đen “BÀI 52 NHƯ Í Ngày 10-9-2020 (22-7-2020)”.
+ 01 (một) quyển sách kích thước 21 x29,7 (cm) bìa ngoài màu hồng, có in dòng chữ màu đen “BÀI 106 NHƯ Í”.
+ 01 (một) quyển sách kích thước 21 x29,7 (cm) bìa ngoài màu hồng, có in dòng chữ màu đen “BÀI 35 NHƯ Ý”.
+ 01 (một) quyển sổ kích thước 21x 29,7 (cm), bìa ngoài màu đỏ có in dòng chữ màu vàng “A4 Grand 210mmx297mm” và ghi chữ màu trắng “Bài 24”.
* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị G:
02 sim điện thoại di động có số thuê bao 0919.551.619 và 0328.297.753
* Vật chứng thu giữ của Phạm Thị L1:
01 sim điện thoại di động có số thuê bao 0383.282.972
* Vật chứng gồm các đồ vật thờ cúng, công cụ, phương tiện “đánh trận” của các bị cáo dùng chung.
- Vật chứng gồm các đồ vật trang trí, quần áo thờ cúng thu giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của 05 bị cáo:
+ 03 (ba) bóng điện LED nhãn hiệu TECSTAR, dạng đui xoắn, nhiều màu, trên thân bóng có in số 492-3;
+ 02 (hai) chậu cây chuối nhựa cao 21cm, mỗi chậu gồm 02 cây chuối, một cây có buồng chuối màu xanh, một cây có buồng chuối màu vàng;
+ 08 (tám) dây bóng điện nhiều màu bóng, mỗi dây gồm 20 bóng điện dạng hình cầu (đường kính 05 cm), nhiều màu, mắc nối tiếp với nhau.
+ 01 (một) dây bóng điện dài 320 cm, gồm 35 bóng điện trang trí nhiều màu mắc nối tiếp với nhau, kích thước mỗi bóng dài 3,5cm.
+ 12 (mười hai) dây đèn nháy nhiều màu, mỗi dây dài 520 cm;
+ 06 (sáu) cây nến dài 15cm, màu cam;
+ 49 (bốn mười chín) dây bóng điện nhiều màu bóng, mỗi dây gồm 20 bóng điện dạng hình cầu (đường kính 05 cm), nhiều màu, mắc nối tiếp với nhau.
- Ba lô: 14 cái:
+ 02 (hai) Ba lô bằng vải ni lông màu xám, tem nhãn in chữ “airpack”, kích thước (39x48) cm, loại 2 dây.
+ 12 (hai) Ba lô dạng nhỏ kích thước (26x28) cm, vải ni lông, màu tím, không tem nhãn.
- Quần, áo các loại: 17 cái (16 áo, 01 quần).
+ 01 (một) áo váy bằng vải, không tem nhãn, loại áo cổ tròn, ngắn tay, kẻ ngang nhiều màu.
+ 01 (một) áo váy bằng vải, không tem nhãn, loại áo cổ tròn, ngắn tay, màu xanh lá cây.
+ 01 (một) áo váy bằng vải, tem nhãn in chữ “Love&Girl”; lọai áo cổ tròn, ngắn tay, khóa sau, màu trắng có họa tiết màu đen-xanh.
+ 01 (một) áo váy bằng vải, tem nhãn in chữ “alto, 66”; lọai áo cổ tròn, ngắn tay, màu trắng kẻ sọc.
+ 01 (một) áo váy bằng vải, tem nhãn in chữ “LADY SONNE, L”, lọai áo cổ tròn, dài tay, màu đen.
+ 01 (một) áo váy bằng vải, không tem nhãn, lọai áo cổ tròn, ngắn tay, cúc trước khóa sau, màu nâu chấm bi màu trắng.
+ 01 (một) áo váy bằng vải, tem nhãn in chữ “WN W N FASHION”, loại áo cổ tròn, ngắn tay, màu trắng họa tiết màu đen.
+ 01 (một) áo váy bằng vải, không tem nhãn, loại áo cổ bẻ, dài tay, cúc trước, có dây thắt lưng, màu vàng hoa văn nhiều màu.
+ 01 (một) áo váy bằng vải, không tem nhãn, loại 2 dây, màu trắng.
+ 01 (một) áo bằng vải, tem nhãn in chữ “richard malcolm, size: S, Made in China”, loại áo cổ trái tim, dài tay, màu trắng thêu hoa văn màu nâu.
+ 01 (một) áo sơ mi bằng vải kẻ ca rô, không tem nhãn, loại áo ngắn tay, màu trắng, xanh.
+ 01 (một) áo bằng vải, không tem nhãn, loại áo cổ tròn, ngắn tay, màu đen chấm bi màu nâu.
+ 01 (một) áo váy bằng vải, không tem nhãn, loại áo cổ bẻ, cúc trước, dài tay, màu đỏ họa tiết dây xích nhiều màu.
+ 01 (một) áo bằng vải, không tem nhãn, loại áo cổ bẻ, cúc trước, ngắn tay, màu đen hoa văn màu trắng.
+ 01 (một) áo bằng vải, không tem nhãn, loại áo cổ tròn, ngắn tay, màu trắng họa tiết bằng những dòng chữ màu đen.
+ 01 (một) áo bằng vải, không tem nhãn, loại áo cổ tròn, dài tay, kẻ ngang màu trắng đen.
+ 01 (một) quần ngắn, bằng vải, tem nhãn in chữ “ANNTAYLOR MADE IN PHILIPPINES”, màu trắng.
- Bát hương: 01 cái bằng gốm hình trụ tròn, đường kính 19cm, cao 16 cm.
* Các công cụ, phương tiện đánh trận của các bị cáo dùng chung:
- 01 (một) cào 07 răng bằng kim loại màu trắng, dài 71cm, lưỡi cào rộng 12,5cm, sâu 16cm, thân cào bằng kim loại rỗng, hình trụ, đường kính 3cm.
- 01 (một) kéo kim loại dài 18cm, lưỡi kéo dài 9,5cm, một mũi kéo bị gãy, tay nắm kéo bằng kim loại cũ, lưỡi kéo hoen gỉ.
- 01 (một) kéo kim loại dài 19,5cm, lưỡi kéo dài 7,5cm, thân kéo có dòng chữ “STAINL STEEL”, tay nắm kéo bằng kim loại màu vàng.
[3.2] Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước công cụ phạm tội của các bị cáo, gồm:
* Vật chứng thu giữ của Tô Thế T:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu LG L8X màu đen đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì bằng giấy màu trắng, tại mặt trước góc trên bên trái phong bì có in dòng chữ “CÔNG AN TỈNH THÁI BÌNH CƠ QUAN AN NINH ĐIỀU TRA Số: .../...”, góc dưới bên phải tại mục “Kính gửi: ...” có viết dòng chữ màu xanh “Điện thoại niêm phong của Tô Thế T…”; mặt sau phong bì có chữ ký niêm phong của Ngô Mạnh D, Nguyễn Xuân T8, Tô Thế T, Phạm Thị L.
- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 5558 niêm phong trong thùng bìa cát tông kích thước (21x30x39,5) cm màu nâu. Mặt trên dán giấy niêm phong ghi dòng chữ “Máy tính niêm phong của Tô Thế T…”; mặt dưới có dán giấy niêm phong màu trắng. Tại các vị trí niêm phong có chữ ký niêm phong của Phạm Văn D, Nguyễn Xuân T8, Tô Thế T, Phạm Thị L.
- 01 (một) máy in màu đen trên máy in có in dòng chữ “EPSON L805”, đã qua sử dụng.
- 01 (một) máy in màu trắng nhãn hiệu Canon F166400, đã qua sử dụng.
- 01 (một) chân đặt máy quay nhãn hiệu YUNTENG, trên thân ghi VCT-5208RM, No.0120094541.
* Vật chứng thu giữ của Phạm Thị L:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME 7Pro màu xanh đã qua sử dụng niêm phong trong phong bì bằng giấy màu trắng, tại mặt trước góc trên bên trái phong bì có in dòng chữ “CÔNG AN TỈNH THÁI BÌNH CƠ QUAN AN NINH ĐIỀU TRA Số: .../...”, góc dưới bên phải tại mục “Kính gửi: ...” có viết dòng chữ màu xanh “Đồ vật tạm giữ của Phạm Thị L…”; mặt sau phong bì có chữ ký niêm phong của Lê Quang L4, Phạm Thị L
- 01 (một) máy tính xách tay Lenovo 81W8 niêm phong trong thùng bìa cát tông màu vàng. Mặt trên thùng bìa dán giấy niêm phong màu trắng bên ghi dòng chữ “MÁY TÍNH THU GIỮ CỦA PHẠM THỊ L”. Tại vị trí niêm phong có chữ ký niêm phong của Lê Quang L4, Phạm Thị L, Phạm Thị H.
* Vật chứng thu giữ của Phạm Thị H:
- 01 (một) điện thoại di động Samsung J7 Pro đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì bằng giấy màu trắng, tại mặt trước góc trên bên trái phong bì có in dòng chữ “CÔNG AN TỈNH THÁI BÌNH CƠ QUAN AN NINH ĐIỀU TRA Số: .../...”, góc dưới bên phải tại mục “Kính gửi: ...” có viết dòng chữ màu xanh “Điện thoại tạm giữ của Phạm Thị H…”; mặt sau phong bì có chữ ký niêm phong của Phạm Mạnh C2, Phạm Thị H.
- 01 (một) điện thoại di động OPPO Reno2 niêm phong trong phong bì bằng giấy màu trắng, tại mặt trước góc trên bên trái phong bì có in dòng chữ “CÔNG AN TỈNH THÁI BÌNH CƠ QUAN AN NINH ĐIỀU TRA Số: .../...”, góc dưới bên phải tại mục “Kính gửi: ...” có viết dòng chữ màu xanh “Điện thoại di động quản lý, niêm phong của Phạm Thị H…”; mặt sau phong bì có chữ ký niêm phong của Phạm Mạnh C2, Phạm Thị H.
- 01 (một) chân đặt máy quay nhãn hiệu YUNTENG, trên thân ghi VCT-680RM, No.0120051367.
- 01 (một) ổ cứng di động không rõ nhãn hiệu kèm dây kết nối niêm phong trong phong bì bằng giấy màu trắng, tại mặt trước góc trên bên trái phong bì có in dòng chữ “CÔNG AN TỈNH THÁI BÌNH CƠ QUAN AN NINH ĐIỀU TRA Số: .../...”, góc dưới bên phải tại mục “Kính gửi: ...” có viết dòng chữ màu xanh “Ổ cứng di động bị niêm phong của Phạm Thị H”; mặt sau phong bì có chữ ký niêm phong của Phạm Mạnh C2, Bùi Xuân T8, Phạm Thị H, Nguyễn Thị G.
- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro, niêm phong trong thùng bìa cát tông màu vàng loại thùng bia Hà Nội. Hai mặt được dán giấy niêm phong màu trắng, một mặt ghi dòng chữ “Máy vi tính quản lý niêm phong của Phạm Thị H”. Tại các vị trí niêm phong có chữ ký niêm phong của Phạm Mạnh C2, Bùi Xuân T8, Nguyễn Thị G, Phạm Thị H.
* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị G:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 niêm phong trong phong bì bằng giấy màu trắng, tại mặt trước góc trên bên trái phong bì có in dòng chữ “CÔNG AN TỈNH THÁI BÌNH CƠ QUAN AN NINH ĐIỀU TRA Số: .../...”, góc dưới bên phải tại mục “Kính gửi: …” có viết dòng chữ màu xanh “Điện thoại di động quản lý, niêm phong của Nguyễn Thị G”; mặt sau phong bì có chữ ký niêm phong của Ngô Mạnh D, Nguyễn Đình K1, Phạm Thị H, Nguyễn Thị G.
* Vật chứng thu giữ của Phạm Thị L1:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6 đã qua sử dụng niêm phong trong phong bì bằng giấy màu trắng, tại mặt trước góc trên bên trái phong bì có in dòng chữ “CÔNG AN TỈNH THÁI BÌNH CƠ QUAN AN NINH ĐIỀU TRA Số: .../...”, góc dưới bên phải tại mục “Kính gửi: …” có viết dòng chữ màu xanh “Điện thoại quản lý, niêm phong của Phạm Thị L1…”; mặt sau phong bì có chữ ký niêm phong của Phạm Văn D, Nguyễn Xuân T8, Phạm Thị L1, Tô Thế T.
* Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội các bị cáo sử dụng chung.
- 01 (một) chân máy quay phim bằng kim loại vỏ nhựa màu đen, nhãn hiệu Xiang Wu C-2200, dạng 3 chân, chiều cao gấp gọn 43cm, chiều cao tối đa 125 cm.
- 03 (ba) chân máy quay phim bằng kim loại vỏ nhựa màu đen, nhãn hiệu YUNTENG VCT-680RM NO.0920110449, dạng 3 chân, chiều cao gấp gọn 45 cm, chiều cao tối đa 138 cm.
[3.3] Trả lại các bị cáo tài sản không liên quan hành vi phạm tội của các bị cáo, gồm:
- Trả lại Tô Thế T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng lắp sim có số thuê bao 0377.969.911
- Trả lại bị cáo Phạm Thị L 01 điện thoại di động Nokia đã qua sử dụng lắp sim có số thuê bao 0919.197.539.
[4] Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Tô Thế T, Phạm Thị L, Phạm Thị L1, Phạm Thị H, Nguyễn Thị G mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/8/2021./.
| Nơi nhận: - Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự tỉnh Thái Bình. - Viện Kiểm sát nhân dân Cấp cao; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình; - Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình; - Các bị cáo; - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Thanh Bình |