vanban.org

Bản án 48/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lai Châu Tuyên án 16/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội: “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn Q02 (Hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện P, tỉnh L… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Q phạm tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội: “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2021/HS-ST
Ngày: 16 -7 -2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Xuân Khánh

Ông Mùa A Trừ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải–Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hùng Khánh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 theo Qđịnh đưa vụ án ra xét xử số: 51/2021/QĐXXST-HS ngày 05/7/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn Q; tên gọi khác không; sinh ngày 02/02/1983 tại huyện V, tỉnh V; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: xã Đ, huyện V, tỉnh V; nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú và chỗ ở bản K, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H, sinh năm 1954 và bà Tô Thị T sinh năm 1954; gia đình bị cáo có 04 anh, chị em bị cáo là con thứ bốn trong gia đình; bị cáo có vợ là Bùi Thị D, sinh năm 1984; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

Anh Lê Hải L, sinh năm 1971, địa chỉ bản K, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn Q từ quê lên huyện P, tỉnh Lai Châu sinh sống và làm nghề tự do buôn bán sắt vụ, bán hàng tạp hóa dong, trong một số lần đi bán hàng Q gặp một số người dân địa phương có bán một số cá thể động vật, thấy có khả năng nuôi và nhân giống được Q đã mua với mục đích mang về quê nuôi. Qua nhiều lần mua, mỗi lần mua được Q đều đem về nhà ở bản K, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu để cất giấu, cụ thể Q đã mua được 40 kg rắn hổ mang với giá 120.000 đồng/1kg, 02 con rùa với giá 50.000 đồng/1 con, 01 con cầy có có trọng lượng 2,5kg với giá 200.000 đồng/1kg. Tối ngày 15/4/2021, Bùi Văn Q mang toàn bộ số động vật trên đóng thành nhiều túi khác nhau, rắn cho vào 03 túi lưới loại túi nhựa, sau đó cho vào 03 sọt nhựa màu đen (loại sọt đựng hoa quả), rồi dùng bao xác rắn bọc lại, hai con rùa cho vào hai chiếc tất màu trắng riêng biệt buộc thắt lại bỏ vào trong một sọt đựng rắn, còn con cầy cho vào lồng sắt và dùng bao xác rắn bọc kín lại. Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày Bùi Văn Q thấy anh Lê Hải L, sinh năm 1971 cùng trú tại bản K, xã K (hai nhà sát gần nhau) đánh xe ra trước cửa nhà nên Q hỏi đi đâu, anh L trả lời đi lên thành phố Lai Châu thăm người nhà. Thấy vậy Bùi Văn Q xin anh L cho đi nhờ lên bến xe khách tỉnh Lai Châu để về quê, anh L đồng ý, Q bảo anh L mở cốp xe để Q mang theo ít đồ, anh L bật khóa mở cốp và đi vào nhà thay quần áo. Bùi Văn Q chuyển toàn bộ số bao tải đựng rắn, rùa, cầy cho vào xe không cho L biết là động vật rắn, rùa, cầy. Khoảng 20 giờ cùng ngày Lê Hải L điều khiển xe ô tô BKS: 25 A-024.62 cùng Q lên thành phố Lai Châu. Trên đường đi L phát hiện thấy trong xe có mùi hôi có hỏi Q mang theo hàng gì, Q trả lời có con lợn cắp nách và một số đồ linh tinh mang về quê, nghe vậy L không hỏi gì. Khi đi đến thành phố Lai Châu, Q có gọi cho nhà xe và được nhà xe báo sẽ đón Q ở cây xăng S cho tiện nên Q bảo L đưa đến cây xăng S. Vì cũng muốn mua xăng nên L nhất trí. Khi anh L vừa dừng xe ở cây xăng S, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu thuộc Km 37+800, quốc lộ 4D thì bị lực lượng chức năng (Phòng cảnh sát môi trường, sảnh sát giao thông Công an tỉnh và Cục kiểm lâm tỉnh Lai Châu) phát hiện thu giữ toàn bộ số động vật trên của Q.

Bản kết luận giám định số 308/STTNSV ngày 19/4/2021 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam kết luận:

“1. 40kg (bốn mươi kilogam) cá thể động vật là loài rắn hổ mang một mắt kính có tên khoa học Naja kaouthia gồm 39 cá thể. Loài rắn Hổ mang một mắt kính có tên trong Nhóm IIB, Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22/01/2019 của Chính phủ).

2. 02 (hai) cá thể động vật là loài Rùa đầu to có tên khoa học Platysternon megacephalum. Loài Rùa đầu to có tên trong Phụ lục I. Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ((Ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ) và đồng thời có tên trong nhóm IB. Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22/01/2019 của Chính phủ)).

3. 01 (một) cá thể động vật là loài cầy vòi mốc có tên khoa học Pagumalarvata. Loài cầy vòi mốc có tên trong Nhóm IIB, Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22/01/2019 của Chính phủ).

Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐ ĐGTS ngày 06/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản theo vụ việc của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu kết luận: 40 kg rắn hổ mang một mắt kính (cá thể còn sống) có giá trị 8.400.000 đồng; 2,5kg cầy vòi mốc (cá thể còn sống) có giá trị 792.500 đồng.

Bản cáo trạng số: 31/CT-VKS-P1, ngày 09/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Bùi Văn Q về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về Q định truy tố và không khiếu nại gì về kết luận giám định.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa được Hội đồng xét xử công bố lời khai, bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Luận tội tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, động cơ mục đích phạm tội của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm; miễn hình phạt tiền cho bị cáo, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình, bị cáo trình bày bản thân bị bệnh thoát vị đĩa đệm, thường xuyên đau ốm nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Người làm chứng trong vụ án được Tòa án triệu tập hợp lệ có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh, quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về tội danh và khung hình phạt: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: vật chứng thu giữ, biên bản niêm phong đồ vật thu giữ, kết luận giám định của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, lời khai của người làm chứng, lời khai của bị cáo, cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào hồi 21 giờ 10 phút ngày 15/4/2021, tại khu vực km 37+ 800 quốc lộ 4D thuộc xã S, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, Công an tỉnh Lai Châu cùng Cục kiểm lâm tỉnh Lai Châu bắt quả tang Bùi Văn Q có hành vi vận chuyển 02 cá thể Rùa đầu to có tên khoa học Platysternon magacephalum.

Rùa đầu to có tên khoa học Platysternon magacephalum có tên số thứ tự số thứ tự 92 trong Danh mục các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ và số thứ tự 88 nhóm IB Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22/01/2019 của Chính phủ. Hành vi cất giấu và vận chuyển 02 cá thể rùa đầu to của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm chế độ bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm của Nhà nước. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo không biết đó là động vật thuộc nhóm ưu tiên bảo vệ nhưng các hành vi cất giấu không cho ai biết cho thấy bị cáo có biết và có thể nhận thức được hành vi của mình bị Nhà nước cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

Cụ thể điều luật quy định: “1. Người nào vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mực loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”….

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu truy tố và luận tội hành vi của bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và sự đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật được chấp nhận.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất hành vi phạm tội của vụ án là nghiêm trọng, mặc dù số động vật còn sống và mục đích động cơ chỉ là mua vận chuyển về để nuôi chưa thực sự gây hậu quả nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi đó cũng phần nào ảnh hưởng môi trường sinh thái, có thể làm mất sự cân bằng sinh thái, sự đa dạng sinh học của các loài động vật hoang dã, quý hiếm và còn xâm hại đến sự sinh tồn tự nhiên của các loài động vật hoang dã quý, hiếm đang được ưu tiên bảo vệ, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về môi trường. Do đó phải xử lý bị cáo bằng luật hình sự mới đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thể hiện trước lần phạm tội này bị cáo chưa vi phạm pháp luật gì. Bị cáo không có tình ti ết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chỉ được học đến lớp 3 lại không được tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã, nhất là động vật nguy cấp, quý, hiếm nên có phần hạn chế về nhận thức, gia đình bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bản thân bị cáo thường xuyên đau ốm là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Mặt khác trong quá trình điều tra bị cáo không những thành khẩn khai báo để sớm kết thúc vụ án mà còn tích cực giúp đỡ Cơ quan điều tra đấu tranh pháp hiện tội phạm đưa ra truy tố trước pháp luật (theo công văn đề nghị số 674/CV, ngày 25/6/2021 của Cơ quan điều tra). Vì vậy, Cơ quan điều tra đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, công văn đề nghị này được coi là tình tiết “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan điều tra có trách nhiệm phát hiện tội phạm và trong quá trình giải quyết vụ án” được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo được nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi môi trường ngoài xã hội mà chỉ cần dưới sự quản lý, giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử áp dụng quy định Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là phù hợp, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với nhưng người phạm tội biết ăn năn, hối cải.

. Về hình phạt bổ sung: theo khoản 4 Điều 244 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung, nhưng xét thấy bản thân bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định khó đảm bảo cho công tác thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: 02 (hai) cá thể động vật là loài Rùa đầu to có tên khoa học Platysternon megacephalum. Loài Rùa đầu to có tên trong Phụ lục I. Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ((Ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ) và đồng thời có tên trong nhóm IB Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22/01/2019 của Chính phủ)).

Cùng với 40kg (bốn mươi kilogm) gồm 39 cá thể động vật là loài rắn hổ mang một mặt kính có tên khoa học Naja kaouthia và 01 (một) cá thể động vật là loài cầy vòi mốc có tên khoa học Pagumalarvata. Đều thuộc loài có tên trong Nhóm IIB, Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22/01/2019 của Chính phủ).

Các động vật trên hiện đều còn sống đang được gửi tại Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên chăm sóc, quản lý, vậy cần tiếp tục giao cho Trung tâm chăm sóc, quản lý để đưa động vật về với tự nhiên là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy đinh của pháp luật.

. Trong vụ án này có anh Lê Hải L người điều khiển xe ô tô BKS 25A-024.64 chở bị cáo Bùi Văn Q cùng số động vật hoang dã từ xã K đến thành phố Lai Châu, nhưng do anh L không biết và cũng không được hưởng lợi gì nên không liên quan đến vụ án cơ quan điều tra không xử lý và trao trả xe ô tô cho anh L là phù hợp Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển 40kg gồm 39 động vật cá thể rắn hổ mang một mắt kính có tên khoa học Naja kaouthia và 01 cá thể động vật cầy vòi mốc có tên khoa học Paguma larvata là những động vật thuộc nhóm IIB, Danh mực thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22/01/2019 của Chính phủ) không thuộc tội phạm được quy định tại Điều 244 Bộ luật Hình sự thì bị xem xét theo tội phạm quy định tại Điều 234 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên số cá thể rắn và cầy trên được định giá có tổng giá trị là 9.192.500 đồng nên không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 234 Bộ luật Hình sự, vì vậy hành vi trên đã bị xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.

Qua vụ án này cho thấy việc bị cáo mua bán động vật hoang dã nói chung, động vật nguy cấp, quý hiếm nói riêng rất dễ dàng, không được cấp chính quyền tuyên truyền thường xuyên để họ hiểu rõ thế nào là vi phạm các quy định của pháp luật về động vật nguy cấp, quý, hiếm sẽ bị xử lý bằng luật hình sự, do đó cần kiến nghị các cấp chính quyền địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ thực vật, động vật nguy cấp, quý, hiếm đến cộng đồng dân cư.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội: “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm t, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn Q02 (Hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian chấp hành án, bị cáo thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tiếp tục giao các cá thể động vật còn sống gồm: 02 (hai) cá thể động vật là loài Rùa đầu to có tên khoa học Platysternon megacephalum, 39 (ba mươi chín) cá thể động vật là loài rắn hổ mang một mắt kính có tên khoa học Naja kaouthia và 01 (một) cá thể động vật là loài cầy vòi mốc có tên khoa học Pagumalarvata cho Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên chăm sóc, quản lý để đưa cá thể động vật về với tự nhiên khi cần thiết (đặc điểm các cá thể động vật theo theo biên bản giao nhận hồi 16 giờ 30 phút ngày 20/4/2021 giữa Công an tỉnh Lai Châu và Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên).

4. Án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị Qsố 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo Bùi Văn Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Kiến nghị các cấp chính quyền địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ thực vật, động vật nguy cấp, quý, hiếm đến cộng đồng dân cư.

Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ