- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Cao N vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Cao N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢM’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂKLĂK Bản án số: 48 /2021/HS - ST Ngày: 04 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢM’GAR, TỈNH ĐĂKLĂK
- T2 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Loan
2. Bà Trần Thị Minh Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thủy – Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 8 năm 2021 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh ĐăkLăk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2021/TLST
- HS ngày 07 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2021/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Cao N
Sinh ngày: 15/6/1987 tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: thôn M, x H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Cao T (Đ chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1946, có vợ là Đỗ Thị Thanh P, sinh năm 1988, có 02 người con: con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: không
Bị cáo đang tại ngoại tại thôn M, x H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bị hại: Chị H H Niê (chết)
Người đại diện hợp pháp cho người bị hại H H Niê: Ông Y T1 Êban, sinh năm 1989 (chồng) (có mặt)
Địa chỉ: Buôn K, x Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
- Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bà H A Niê, sinh năm 1969 (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền : Ông Y T1 Êban, sinh năm 1989 (có mặt)
(Văn bản ủy quyền ngày 17/6/2021)
+ Cháu H Đ Niê, sinh năm 2007 và cháu H R Niê, sinh năm 2010 (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp cho hai cháu: Ông Y T1 Êban, sinh năm 1989 (là bố đẻ) (có mặt)
Cùng địa chỉ: Địa chỉ: Buôn K, x Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
+ Ông Khưu Châu T2, sinh năm 1968 (vắng mặt) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969 (có mặt). Cùng địa chỉ: 51 U, phường Y, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
+ Công ty TNHH MTV xây dựng S
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị B – Chức vụ: Giám đốc (có mặt)
Địa chỉ: 298 N, phường E, TP.B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người làm chứng: Anh Y K Ayun, sinh năm 1998 (có mặt) và anh Y D Alêo (Ama Lê A) (có mặt). Cùng địa chỉ: Buôn B, x C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 30/3/2021, Đoàn Cao N điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-203.43 ch vật liệu xây dựng là đá loại (1x2)cm t mỏ đá Thanh Tuấn thôn 8, x CưMgar, huyện ư M’gar đến trụ s U ban nhân dân x ư M’gar. Khi đang lưu thông trên đường đến địa phận thuộc thôn 3, x CưMgar, huyện ư M’gar Đoàn Cao N phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 47L5-5256 đi cùng chiều ph a trước cách khoảng 10m do anh Y T1 Êban điều khiển ch vợ là H H Niê ngồi ph a sau và cùng lúc c ng có 02 xe mô tô (do hai người đàn ông không r nhân thân, lai lịch) đi ngược chiều đang đi đến. Đoạn đường này có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (biển báo 207b), lúc này Đoàn Cao N điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 47C-203.43 t ph a sau vượt lên ph a bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 47L5-5256, khi đầu xe ô tô v a vượt đến ngang với xe mô tô biển kiểm soát 47L5-5256 thì hai xe mô tô đi ngược chiều c ng đi gần tới trong đó có 01 xe mô tô đi t ph a sau c ng đang vượt lên xe mô tô đi ph a trước và đi ra gi a đường. Do vậy N điều khiển xe ô tô chuyển hướng sang bên phải theo hướng đi của mình để tránh xe mô tô đi ngược chiều, lúc này bánh xe thứ hai bên phải (t nh t đầu xe đến cuối xe) của xe ô tô đ va chạm vào tay cầm lái người điều khiển bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 47L5-5256 do anh Y T1 Êban điều khiển, khiến xe mô tô biển kiểm soát 47L5-5256 ng xuống đường, anh Y T1 bị văng xuống lề đường bên phải và bị xây xát nh , còn chị H H ngồi ph a sau ng theo xe mô tô và bị bánh xe thứ ba bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 47C-203.43 đ lên vùng mông, đùi phải d n đến tử vong tại chỗ còn xe mô tô biển kiểm soát 47L5-5256 bị hư hỏng nh .
Tại bản kết luận pháp y về tử thi số 439/PYTT-PC09 ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của H H Niê là đa chấn thương (v nát xương chậu và khối xương cùng cụt, rách nát toàn bộ da, cơ mông phải, rách lóc da mặt sau và mặt trong đùi phải) d n đến sốc chấn thương nặng không hồi phục.
Tại bản cáo trạng số: 49/KSĐT-HS ngày 06 tháng 7 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đ truy tố bị cáo Đoàn Cao N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, kiểm sát viên v n gi nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Cao N t 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hư ng án treo. Thời gian thử thách t 24 đến 36 tháng
Về trách nhiệm dân sự: Đoàn Cao N đ bồi thường cho gia đình bị hại chị H H Niê số tiền 182.000.000đ (Một trăm tám mươi hai triệu đồng) là tiền chi ph mai táng và hỗ trợ nuôi hai con của chị H H Niê. Chủ s h u xe ô tô 47C-203.43 là ông Khưu Châu T2 và bà Nguyễn Thị B đ bồi thường cho gia đình bị hại chị H H Niê số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng), 01 con heo (khoảng 80kg), 01 tạ gạo. Đại diện gia đình bị hại chị H H Niê đ làm đơn b i nại cho bị can và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan điều tra đ ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe ô tô biển kiểm soát 47C-203.43 nh n hiệu HYUNDAI, loại xe tải tự đ , màu sơn đỏ, số máy: D6CC9184460, số khung: 18NPAC041892; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 4812226 của xe 47C-203.43 cho chủ s h u là ông Khưu Châu T2; Trả lại 01 xe mô tô 47L5-5256 nh n hiệu BALMY, màu sơn nâu, số máy: P50FMG000044, Số khung: CG0TT6X00044 cho anh Y T1 Êban; Viện kiểm sát nhân dân huyện ư M’gar trả lại 01 Chứng minh nhân dân số 241063599 mang tên Đoàn Cao N cho Đoàn Cao N. Đề nghị HĐXX trả 01 giấy phép lái xe hạng E, FC số 660113798609 mang tên Đoàn Cao N cho Đoàn Cao N
Bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
T nh hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo T2 khẩn khai nhận hành vi của mình đ thực hiện: Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 30/3/2021 Đoàn Cao N (có giấy phép lái xe hạng E, FC) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 47C-203.43 đi theo hướng t thôn 8, x CưMgar, huyện ư M’gar đến trụ s y ban nhân dân x CưMgar, khi đến đoạn đường liên x thuộc địa phận thôn 3, x CưMgar, huyện ư M’gar, tỉnh Đắk Lắk do Đoàn Cao N vượt xe không đảm bảo an toàn nên khi Năm điều khiển xe ô tô vượt xe mô tô biển kiểm soát 47L5-5256 do anh Y T1 Êban điều khiển ngồi sau là chị H H Niê nên đ va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 47L5-5256. Hậu quả của vụ tai nạn làm chị H H ng ra đường và bị bánh xe ph a thứ ba bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 47C-203.43 đ lên vùng mông, đùi phải d n đến tử vong tại chỗ, anh Y T1 bị xây xát và xe mô tô kiểm soát 47L5-5256 bị hư hỏng nh
Hành vi nêu trên của bị cáo Đoàn Cao N đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) Làm chết người
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nh hình phạt là có căn cứ, cần chấp nhận.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Đoàn Cao N là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, đ trực tiếp xâm phạm đến t nh mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự x hội tại địa phương. Như vậy, đ có đủ căn cứ kết luận mặc dù bị cáo có giấy phép lái xe hạng E, FC nhưng bị cáo Đoàn Cao N có hành vi điều khiển xe ôtô do vượt xe môtô đi cùng chiều không đảm bảo an toàn nên đ va chạm xe môtô biển kiểm soát 47L5-5256 do anh Y T1 Êban điều khiển ngồi sau là chị H H Niê. Hậu quả của vụ tai nạn làm chị H H ng ra đường và bị bánh xe ph a thứ ba bên phải của xe ô tô do bị cáo điều khiển đ lên vùng mông, đùi phải d n đến tử vong tại chỗ.
Hành vi của bị cáo đ vi phạm vi phạm vào khoản 2 và điểm d, khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, nên đ phạm vào tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đ truy tố.
Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo t nh răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo, phòng ng a chung trong x hội.
Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nh đối với bị cáo:
Xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo bị cáo đ bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và gia đình người bị hại có đơn b i nại nên cần cho bị cáo hư ng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nhằm thể hiện ch nh sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Với t nh chất mức độ hành vi phạm tội và tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo như đ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi x hội mà áp dụng chế định miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện để bị cáo cải tạo ngoài x hội dưới sự giám sát của ch nh quyền địa phương và gia đình là phù hợp.
Về vật chứng, trách nhiệm dân sự: Ngày 05 tháng 5 năm 2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ư M’gar đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 37 về việc trả lại: 01 xe ô tô biển kiểm soát 47C-203.43 nh n hiệu HYUNDAI, loại xe tải tự đ , màu sơn đỏ, số máy: D6CC9184460, số khung: 18NPAC041892; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 4812226 của xe 47C-203.43 cho chủ s h u là ông Khưu Châu T2.
Ngày 16 tháng 6 năm 2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ư M’gar đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 24 về việc trả lại 01 xe mô tô 47L5-5256 nh n hiệu BALMY, màu sơn nâu, số máy: P50FMG000044, Số khung: CG0TT6X00044 cho anh Y T1 Êban.
Ngày 05 tháng 7 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyên ư M’gar đ ra Quyết định trả lại tài sản số 01: trả lại 01 Chứng minh nhân dân số 241063599 mang tên Đoàn Cao N cho Đoàn Cao N.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng E, FC số 660113798609 mang tên Đoàn Cao N là giấy tờ hợp pháp nên trả cho Đoàn Cao N.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 584, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015;
Công nhận sự thỏa thuận bồi thường gi a bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và gia đình người bị hại số tiền 195.000.000đ, 01 con heo (khoảng 80kg), 01 tạ gạo và bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Khưu Châu T2 và bà Nguyễn Thị B) đ bồi thường đầy đủ nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.
Đối với chủ s h u xe ô tô biển kiểm soát 47C-203.43 là ông Khưu Châu T2 thuê Đoàn Cao N lái xe ô tô biển kiểm soát 47C-203.43, N đ có giấy phép lái xe hạng E, FC nên việc ông Khưu Châu T2 giao xe cho Đoàn Cao N là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ư M’gar không đề cập xử lý đối với ông Khưu Châu T2 là có căn cứ.
. Về án ph : Áp dụng Điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Cao N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Cao N 01 (một) năm tù nhưng cho hư ng án treo
Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể t ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đoàn Cao N cho Ủy ban nhân dân xã H, thành ph , t nh Đ k L k L k nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm ph i hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo c ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Các biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 46, 47 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Chấp nhận Cơ quan điều tra đ ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe ô tô biển kiểm soát 47C-203.43 nh n hiệu HYUNDAI, loại xe tải tự đ , màu sơn đỏ, số máy: D6CC9184460, số khung: 18NPAC041892; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 4812226 của xe 47C-203.43 cho chủ s h u là ông Khưu Châu T2; Trả lại 01 xe mô tô 47L5-5256 nh n hiệu BALMY, màu sơn nâu, số máy: P50FMG000044, Số khung: CG0TT6X00044 cho anh Y T1 Êban;
Chấp nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện ư M’gar trả lại 01 Chứng minh nhân dân số 241063599 mang tên Đoàn Cao N cho Đoàn Cao N.
Trả 01 giấy phép lái xe hạng E, FC số 660113798609 mang tên Đoàn Cao N cho Đoàn Cao N.
[3].Về án ph : Áp dụng Điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án:
Bị cáo Đoàn Cao N phải nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm
[4] Bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày T1 án. Đại diện hợp pháp cho người bị hại hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc kể t ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKS t nh; TA t nh ĐakLak ; - Sở Tư pháp ĐakLak; - Vụ giám đ c kiểm tra I; - VKS huyện CưM’gar; - CA huyện CưM’gar; - Thi hành án dân sự; - Thi hành án HS ; - Bị cáo; đại diện bị hại, người liên quan; - Lưu văn thư; hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Huyền Diệu |