vanban.org

Bản án 48/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguy n Văn T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguy n Văn T 02 (hai) năm t . Th i hạn t t nh từ ng y 15/9/2020. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm P mang số vụ 1608/2020 c chữ niêm P của Giám định viên v Điều tra viên; 02 ống thủy tinh c một đầu tr n 01 quẹt gas v 02 ống hút nhựa. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tú phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguy n Văn T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PH H CH MINH
Bản án số: 48/2021/HS-ST
Ngày: 15-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, TH NH H H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phẹo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. B Phạm Thị Ng c;

2. B Nguy n Phư c Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Hồng Thủy – Thư T a án nh n d n huy n Củ Chi Th nh phố Hồ Ch Minh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n C Chi, Thành ph Hồ Chí Minh: Bà Nguy n Thị Hoa Hu – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Củ Chi Th nh phố Hồ Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ l số: 38/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021 đối v i bị cáo:

H v tên: Nguy n Văn T, sinh năm 1984 tại huy n C, Th nh phố Hồ Ch Minh; nơi đăng hộ hẩu thư ng trú: Ấp X xã A huy n C Th nh phố Hồ Ch Minh; nghề nghi p: L m thuê; trình độ văn h a: 6/12; d n tộc: Kinh; gi i t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguy n Văn T (đã chết) và bà Nguy n Thị T (đã chết); anh chị em ruột: Có 06 ngư i ể cả bị cáo; vợ Nguy n Thị D, sinh năm 1975; có 02 con (l n sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2016);

Tiền án: Không;

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ng y 15/9/2020 cho đến nay. Bị cáo c mặt tại phiên t a.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Nguy n Đức N sinh năm 1986 (vắng mặt);

Địa chỉ: TĐ31/F309 QĐ4 hu phố 1 phư ng L th nh phố B tỉnh Đồng Nai.

+ Ông Trần Văn T sinh năm 1983 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B xã T huy n C Th nh phố Hồ Ch Minh.

+ Ông Lê Xuân V sinh năm 1971 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B xã T huy n C Th nh phố Hồ Ch Minh.

+ Bà Nguy n Thị D sinh năm 1975 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp 2 xã T huy n H tỉnh Đồng Tháp.

Chỗ ở: Khu phố 3 phư ng T thị xã B tỉnh Bình Dương.

+ Ông Trần Văn T sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T xã T huy n C tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i li u c trong hồ sơ vụ án v di n biến tại phiên t a nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Vào hoảng 01 gi 15 phút ngày 15 tháng 9 năm 2020, Nguy n Văn T đi n thoại cho P (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 560.000 đồng ma túy đá. P đồng hẹn gặp tại cầu Đ thuộc ấp Đ xã T huy n C Th nh phố Hồ Ch Minh. Sau hi g i cho P, T đi về nh tại ấp X xã A huy n C Th nh phố Hồ Ch Minh để gặp Trần Văn T đang đợi ở nh . Tại đ y T lấy ma túy cho v o bộ dụng cụ rồi sử dụng một mình tại ph ng hách c n T ở ph a sau nh . Sử dụng một lúc thì T ra ngo i T đi lại ngồi sử dụng một mình. Vi c T sử dụng ma túy thì Tú hông biết. Sau hi T sử dụng xong Tú đi v o nh cất dụng cụ thì m i biết. Đến hoảng 03 gi c ng ng y Tú điều hiển xe gắn máy biển số 60X7-4442 chở T đi đến nh bạn. Khi đi qua hu vực cầu Đồng L n T đứng bên ngo i xe Tú đi v o hu trụ đi n gần cầu lấy 02 g i ma túy v i giá 560.000 đồng nhét v o trong b p để ở túi quần sau bên phải. Sau hi mua được chất ma túy Tú điều hiển xe gắn máy chở T đi đến hu vực tuyến đư ng V thì bị lực lượng Công an xã phát hi n bắt quả tang.

Tại phiên t a bị cáo đã thừa nhận h nh vi phạm tội như đã nêu trên.

Theo bản ết luận giám định số 1608/KLGĐ-H ngày 23/9/2020 của Ph ng ỹ thuật hình sự Công an Th nh phố Hồ Ch Minh ết luận: Tinh thể hông m u trong 02 g i nylon được niêm P bên ngo i c dấu v y tay chữ ghi tên Nguy n Văn T v hình dấu Công an xã Trung Lập Thượng huy n Củ Chi l ma túy ở thể rắn c hối lượng 1,2524g (một phẩy hai năm hai bốn gam) loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ:

01 đi n thoại di động hi u OPPO m u đen (trả lại chủ sở hữu).

01 xe gắn máy hi u Yamaha loại Sirius m u đỏ - đen biển số 60X7-4442 (đã trả lại cho chủ sở hữu).

01 đi n thoại di động hi u Masstel m u đen (tách hỏi vụ án).

01 gói niêm P mang số vụ 1608/2020 c chữ niêm P của Giám định viên v Điều tra viên.

02 ống thủy tinh c một đầu tr n 01 quẹt gas v 02 ống hút nhựa.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS.CC ngày 04/02/2021 của Vi n iểm sát nh n d n huy n Củ Chi đã truy tố ra trư c T a án nh n d n huy n Củ Chi để xét xử Nguy n Văn T về tội “T ng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c hoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên t a đại di n Vi n iểm sát giữ quyền công tố luận tội: L i hai nhận tội của bị cáo ph hợp v i nội dung bản cáo trạng v các chứng cứ c tại hồ sơ.

Vào lúc 03 gi 30 phút ng y 15/9/2020 trên tuyến đư ng V thuộc ấp T xã T huy n C, Nguy n Văn T đang t ng trữ 02 g i ma túy ở thể rắn, c hối lượng 1,2524g, loại Methamphetamine nh m mục đ ch sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đ , đã c đủ cơ sở ết luận bị cáo Nguy n Văn T đã phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo là ngư i c đủ năng lực h nh vi để biết vi c t ng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đ ch thỏa mãn cơn nghi n m vẫn thực hi n. H nh vi của bị cáo l nguy hiểm x m phạm trật tự quản l Nh nư c về dược li u dược phẩm độc hại g y mất trật tự tại địa phương g y dư luận hông tốt trong nh n d n nên cần áp dụng hình phạt nghiêm hắc v cách ly ra hỏi xã hội một th i gian.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra v tại phiên t a bị cáo đã th nh hẩn hai báo, ăn năn hối cải.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249 và điểm s hoản 1 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguy n Văn T mức án 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng t .

Về xử l vật chứng:

01 đi n thoại di động hi u OPPO m u đen (trả lại chủ sở hữu) nên hông xem xét.

01 xe gắn máy hi u Yamaha loại Sirius m u đỏ - đen biển số 60X7-4442 (đã trả lại cho chủ sở hữu) nên hông xem xét.

01 đi n thoại di động hi u Masstel m u đen (tách hỏi vụ án) nên hông xem xét.

01 gói niêm P mang số vụ 1608/2020 c chữ niêm P của Giám định viên và Điều tra viên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

02 ống thủy tinh c một đầu tr n 01 quẹt gas v 02 ống hút nhựa đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối v i Trần Văn T mặc d đi c ng nhưng hông biết T c ma túy trong ngư i hông h n tiền mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi hông tiến h nh xử l . Vi c T sử dụng ma túy tại nh của T thì T hông biết nên hông xử l hình sự T.

Đối v i ngư i bán ma túy cho T tên P (chưa rõ lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi tiếp tục điều tra làm rõ, xử l sau.

Bị cáo Nguy n Văn T hông tranh luận hông tự b o chữa.

L i n i sau c ng của bị cáo Nguy n Văn T: Bị cáo biết h nh vi của mình l sai xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để s m về v i gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ v o các t i li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về h nh vi quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi Điều tra viên Vi n iểm sát nh n d n huy n Củ Chi Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên t a bị cáo hông c kiến hoặc hiếu nại về h nh vi quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng ngư i tiến h nh tố tụng. Do đ các h nh vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, ngư i tiến h nh tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

[2] Tại phiên t a, bị cáo Nguy n Văn T đã hai nhận h nh vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. L i hai nhận tội của bị cáo ph hợp v i biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang v các chứng cứ c trong hồ sơ vụ án:

Vào lúc 03 gi 30 phút ng y 15/9/2020 hi đi tuần tra trên tuyến đư ng V thuộc ấp T xã T huy n C, Th nh phố Hồ Ch Minh Công an xã Trung lập Thượng phát hi n Trần Văn T đang đẩy xe gắn máy biển số 60X7-4442 đi c ng Nguy n Văn T c biểu hi n nghi vấn nên tiến h nh iểm tra. Qua iểm tra phát hi n trong v tiền của Nguy n Văn T ở túi quần ph a sau bên phải c 02 g i ma túy ở thể rắn c hối lượng 1,2524g loại Methamphetamine nh m mục đ ch sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đ , Hội đồng xét xử c đủ cơ sở ết luận bị cáo Nguy n Văn T đã phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] H nh vi của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, x m phạm đến các quy định của Nh nư c về quản l dược li u dược phẩm độc hại g y mất an ninh trật tự tại địa phương v tạo ra dư luận xấu trong nh n d n. Hơn nữa h nh vi của bị cáo t ng trữ chất ma túy để sử dụng ảnh hưởng trực tiếp đến sức hỏe của bị cáo v c hả năng l nguyên nh n g y ra các tội phạm hác. Bị cáo nhận thức được vi c t ng trữ trái phép chất ma túy l bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghi n của bản thân mà bị cáo đã bất chấp thực hi n h nh vi phạm tội. Do đ Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm hắc để cải tạo v giáo dục bị cáo trở th nh ngư i công dân tốt cho xã hội.

[4] Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét t nh chất v mức độ nguy hiểm trong h nh vi v nh n th n của bị cáo để c mức hình phạt tương xứng:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không c tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo đã th nh hẩn hai báo ăn năn hối cải. Do đ Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy hông cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối v i bị cáo quy định tại hoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về xử l vật chứng:

01 gói niêm P mang số vụ 1608/2020 c chữ niêm P của Giám định viên và Điều tra viên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

02 ống thủy tinh c một đầu tr n 01 quẹt gas v 02 ống hút nhựa Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối v i Trần Văn T mặc d đi c ng nhưng hông biết T c ma túy trong ngư i hông h n tiền mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi hông tiến h nh xử l . Vi c T sử dụng ma túy tại nh của T thì T hông biết nên hông xử l hình sự T.

Đối v i ngư i bán ma túy cho T tên P (chưa rõ lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi tiếp tục điều tra làm rõ, xử l sau.

Xử l trên của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi, Hội đồng xét xử xét thấy ph hợp.

[8] Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật ph v L ph số 97/2015/QH13 ng y 25/11/2015 v Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu mi n giảm thu nộp quản l v sử dụng án ph v l ph T a án bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm l 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguy n Văn T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s hoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguy n Văn T 02 (hai) năm t . Th i hạn t t nh từ ng y 15/9/2020.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm P mang số vụ 1608/2020 c chữ niêm P của Giám định viên v Điều tra viên; 02 ống thủy tinh c một đầu tr n 01 quẹt gas v 02 ống hút nhựa.

(Các vật chứng nêu trên được li t ê tại Phiếu nhập ho vật chứng số 231/PNK ngày 30/11/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi (BL 47)).

Căn cứ v o Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật ph v L ph số 97/2015/QH13 ng y 25/11/2015 v Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu mi n giảm thu nộp quản l v sử dụng án ph v l ph T a án.

Buộc bị cáo Nguy n Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo c mặt tại phiên t a c quyền háng cáo trong th i hạn 15 ng y ể từ ngày tuyên án. Đối v i ngư i c quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa c quyền háng cáo trong th i hạn 15 ng y ể từ ng y nhận được bản án hoặc ể từ ng y bản án được niêm yết.

Trư ng hợp bản án được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án d n sự thì ngư i được thi h nh án d n sự ngư i phải thi h nh án d n sự c quyền thỏa thuận thi h nh án quyền yêu cầu thi h nh án tự nguy n thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6 7 v 9 Luật Thi h nh án d n sự; th i hi u thi h nh án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án d n sự.

Cỡ chữ