- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hoàng Thị M và Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2021/HNGĐ-ST Ngày 22/4/2021 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Bình - Cán bộ hưu.
Bà Lê Thị Minh Khánh - Cán bộ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Sơn - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 22/4/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 19/2021/TLST-HNGĐ ngày 26/01/2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/03/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2021, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị M – Sinh năm 1996
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang lao động tại nước ngoài không rõ địa chỉ.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị M trình bày:
- Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn ngày 25/05/2017 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 đầu năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Cụ thể là sau khi chồng chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản vì khoảng cách xa tình cảm vợ chồng bắt đầu đi xuống, không tin tưởng nhau thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm khiến cho quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng, mặc dù vợ chồng nhiều lần nói chuyện tìm cách giải quyết mâu thuẫn, gia đình cũng can thiệp giảng giải cho vợ chồng đi đến hòa thuận nhưng sự việc vẫn không được giải quyết. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Chị Hoàng Thị M và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia K – sinh ngày 09/11/2017. Sau khi ly hôn chị M đề nghị được nuôi con chung và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con chung là 2.000.000đ/ tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, công nợ chung: chị M trình bày không có công nợ chung và tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là Anh Nguyễn Văn T hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Nguyễn Văn T.
* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T là bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1956, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; bà P có quan điểm trình bày:
- Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T có địa chỉ như trên. Hiện nay anh T đang đi lao động tại Nhật Bản không có mặt tại địa phương, nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình thông qua mạng xã hội. Về địa chỉ của anh T ở bên nước ngoài thì bà không biết nên không thể cung cấp cho Tòa án. Tòa án yêu cầu gia đình bà thông báo để anh T gửi quan điểm về cho Tòa án thì gia đình từ chối thực hiện.
- Về việc chị M xin ly hôn anh T thì anh T có quan điểm là đồng ý ly hôn với chị M .
- Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung là là cháu Nguyễn Gia K – sinh ngày 09/11/2017. Sau khi ly hôn chị M đề nghị được nuôi con chung và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con chung là 2.000.000đ/ tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi thì anh T có quan điểm là anh T đề nghị được nuôi con chung còn về cấp dưỡng thì anh T không yêu cầu. Hiện nay cháu K học lớp mẫu giáo 03 tuổi ở trường mầm non Thượng Lâm.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị M xin vắng mặt, không có quan điểm gì khác về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn. Anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xét thấy tình trạng mâu thuẫn của đương sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56-Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Gia K – sinh ngày 09/11/2017 cho chị M nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn T phải cấp dưỡng cho con chung 1.500.000đ/ 1 tháng từ khi xét xử sơ thẩm đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tài sản chung, công nợ chung: các đương sự trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: căn cứ khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc chị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Anh T phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
.Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị M là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung đối với anh Nguyễn Văn T. Bị đơn là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại: thôn Thượng Lâm, T, huyện L, Bắc Giang nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 24706/QLXNC- P5 ngày 28/12/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì anh Nguyễn Văn T đã xuất cảnh ra nước ngoài 05 lần gần nhất là ngày 18/02/2019 chưa thấy thông tin nhập cảnh về Việt Nam; không có thông tin địa chỉ nước đến, địa chỉ ở nước ngoài của anh Nguyễn Văn T. Từ các nội dung trên, HĐXX xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị Hoàng Thị M vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì đây được coi là trường hợp anh Nguyễn Văn T cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn T theo quy định tại khoản 5, Điều 177; Điều 179 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn T, chị Hoàng Thị M.
. Về quan hệ hôn nhân:
. Theo như chị M trình bày: Chị Hoàng Thị M kết hôn với anh Nguyễn Văn T trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 25/05/2017 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 đầu năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Cụ thể là sau khi chồng chị đi xuất khẩu lao động tại Nhận Bản vì khoảng cách xa tình cảm vợ chồng bắt đầu đi xuống, không tin tưởng nhau thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm khiến cho quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng, mặc dù vợ chồng nhiều lần nói chuyện tìm cách giải quyết mâu thuẫn, gia đình cũng can thiệp giảng giải cho vợ chồng đi đến hòa thuận nhưng sự việc vẫn không được giải quyết.Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Thông qua thân nhân anh Nguyễn Văn T cũng đồng ý ly hôn với chị M.
. Hội đồng xét xử thấy: Quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị M và anh Nguyễn Văn T là hợp pháp. Hiện nay vợ chồng mỗi người sống một nơi, xa cách về địa lý và không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống nữa, vợ chồng mâu thuẫn, cắt đứt liên lạc. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Hoàng Thị M và anh Nguyễn Văn T đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoàng Thị M và anh Nguyễn Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
. Về con chung:
. Chị Hoàng Thị M và anh Nguyễn Văn T có một con chung là cháu Nguyễn Gia K – sinh ngày 09/11/2017 hiện đang ở với chị M. Ly hôn, chị Hoàng Thị M xin nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con chung là 2.000.000đ/ 1 tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.
. HĐXX thấy: Chị Hoàng Thị M có nguyện vọng nuôi con chung và có đầy đủ điều kiện nuôi con chung. Cháu K hiện nay đang ở với chị M. Hiện anh Nguyễn Văn T đang lao động tại nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cho chị Hoàng Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Gia K – sinh ngày 09/11/2017.
. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng/1 tháng). Xét điều kiện hoàn cảnh kinh tế của các đương sự, HĐXX thấy cần chấp nhận việc anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo mức cấp dưỡng nuôi 01 con mỗi tháng là 1.500.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi con chung đủ 18 tuổi.
. Các quyền khác về con chung sau khi ly hôn:
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Trường hợp anh Nguyễn Văn T về Việt Nam và có nguyện vọng nuôi con chung có thể làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): các đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Hoàng Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; điểm b, khoản 1, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5, điểm a, khoản 6, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung:
- Giao con chung là cháu Nguyễn Gia K – sinh ngày 09/11/2017 cho chị Hoàng Thị M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Gia K cho chị Hoàng Thị M theo mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/1 tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/4/2021) đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Trường hợp Anh Nguyễn Văn T về Việt Nam và có nguyện vọng nuôi con chung có thể làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về án phí:
- Chị Hoàng Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0000878 ngày 26/01/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Hoàng Thị M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về quyền kháng cáo:
- Anh Nguyễn Văn T hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Chị Hoàng Thị M cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Cấp Cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang - UBND xã T, huyện L. - Cổng thông tin điện tử TANDTC; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Ong Thân Thắng |