vanban.org

Bản án 48/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 16/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN YÊN MỸ
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 48/2020/HSST
Ngày 16/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Phương.

Ông Nguyễn Văn Thanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Ngọc Thơ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/9/2020, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 08 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 09 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1988. Có mặt Sinh quán: thôn P, xã B, huyện A, tỉnh Hưng Yên. Nơi đang ký hộ khẩu thường trú, chỗ ở: thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Chức vụ: Không. Họ và tên bố: Nguyễn Văn K ( đã chết ). Họ và tên mẹ: Tạ Thị T ( đã chết ). Gia đình có một mình bị cáo là con. Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990 (Đã ly hôn). Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Tạ Văn Q, Sinh năm 1966. Có mặt Trú tại: thôn B, xã S, huyện A, tỉnh Hưng Yên.

* Người làm chứng:

- Ông Hoàng Văn H (Hoàng Quang H), Sinh năm 1974. Vắng mặt

Trú tại: thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Bùi Duy Đ, Sinh năm 1984. Vắng mặt Trú tại : C1, E720, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là người sử dụng chất ma túy tổng hợp (Amphetamin và Methamphetamin). Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 27/5/2020 T đang ở nhà thì có một người tên là T ở thôn L, xã T, huyện Y gọi điện thoại rủ T đến nhà chơi. Sau đó T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN mầu nâu, biển số 48F1-6366 (T mượn của bác ruột là Tạ Văn Q) đến nhà T. Tại đây T đưa cho T 300.000 đồng và bảo đi mua ma túy về để T và T cùng sử dụng, T cầm 300.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô trên đi đến khu vực thôn Đ, xã D, huyện A và gặp một bà già khoảng 80 tuổi, T đưa 300.000đồng và người này đưa cho T 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (2x1,5)cm bên trong chứa ma túy đá, T cầm gói ma túy và giấu vào gấu quần bên trái đang mặc. Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 27/5/2020, trên đường mang ma túy về đến khu vực đường làng, xóm V, thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại gấu quần bò bên trái của T đang mặc 01 túi nilong mầu trắng có viền mầu xanh, kích thước 02cm x 1,5cm, bên trong có chứa chất tinh thể mầu trắng (T khai là ma túy đá). Niêm phong ký hiệu M1; thu tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 điện thoại di động Nokia mầu xanh, có lắp sim số 0383869115 và 01 điện thoại di động HTC mầu vàng không lắp sim; 01 sạc pin điện thoại dự phòng đã cũ; Thu tại túi quần phía sau của T 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN mầu nâu, biển số 48F1-6366.

Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T, không phát hiện, thu giữ gì.

Tại Kết luận giám định số 158/MT-PC09 ngày 30/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên xác định: Mẫu chất dạng tinh thể mầu trắng trong niêm phong ghi M1 có tổng lượng 0,223gam, là ma túy loại Methamphetamine; Hoàn lại 0,182gam Methamphetaminhe trong niêm phong ghi ký hiệu M1, giao cho Công an huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên quản lý.

Quá trình điều tra, bị cáo T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Đối với người tên T theo như T khai đã đưa tiền để T đi mua ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mỹ đã tiến hành xác minh, Công an xã T cung cấp tại thôn L, xã T, huyện Y có người tên Trương Văn T sinh năm 1990. Cơ quan CSĐT Công an huyện đã nhiều lần triệu tập nhưng T đêu vắng mặt chưa làm việc được, Do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mỹ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với bà già khoảng 80 tuổi theo T khai đã bán ma túy cho T tại thôn Đ, xã D, huyên A. Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mỹ đã tiến hành xác minh tại xã D không xác định được lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô xe nhãn hiệu DAEHAN mầu nâu, biển số 48F1-6366 T sử dụng đi mua ma túy là của ông Tạ Văn Q sinh năm 1966 ở thôn B, xã S, huyện A, tỉnh Hưng Yên (là bác ruột của T) cho T mượn để làm phương tiện đi lại, không biết việc T sử dụng vào việc đi mua ma túy; Chiếc điện thoại HTC mầu vàng không lắp sim; chiếc sạc pin dự phòng và số tiền 20.000 đồng là tài sản của T không liên quan tội phạm.

Bản cáo trạng số 55/CT-VKS-YM ngày 27/08/2020 của Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà có quan điểm xác định sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; Sau khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/05/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu 158/MT-PC09 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên bên trong chứa 0,182g Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

Trả lại bị cáo T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC mầu vàng đã cũ, bên trong không lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu xanh đã cũ, bên trong có lắp sim số 0383869115; 01 sạc pin dự phòng mầu xám – trắng đã cũ; Số tiền 20.000đ.

Trả lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tạ Văn Q 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN mầu nâu, biển số 48F1-6366.

- Bị cáo T đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có ý kiến đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người tham gia tố tụng khác và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tạ Văn Q có quan điểm xin được nhận lại chiếc xe mô tô đã cho bị cáo mượn để làm phương tiện đi lại, không biết việc bị cáo sử dụng vào việc đi mua ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện VKSND huyện Yên Mỹ đều có đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Người làm chứng vắng mặt đã có đầy đủ lời khai và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo. Vì vậy, HĐXX quyết định xét xử vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 27/5/2020, tại tại đường làng, xóm V, thôn L, xã T, huyện Y, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,223 gam ma túy loại Methamphetamin để sử dụng trái phép, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Do đó, Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo buộc phải nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Bản thân bị cáo nhận thức rõ được tác hại của chất ma túy gây ra cho con người và xã hội, nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện mà vẫn lao vào con đường phạm tội. Do đó, việc tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và để phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, đó là: Bị cáo đã thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,182g ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên sẽ cho tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC mầu vàng đã cũ, bên trong không lắp sim, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu xanh đã cũ, bên trong có lắp sim số 0383869115, 01 sạc pin dự phòng mầu xám – trắng đã cũ và số tiền 20.000đ thu giữ của bị cáo T không liên quan đến tội phạm nên sẽ trả lại cho bị cáo; Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN mầu nâu, biển số 48F1-6366 bị cáo mượn của ông Tạ Văn Q, ông Q không biết bị cáo sử dụng để đi mua ma túy nên sẽ trả lại cho ông Q.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/05/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu 158/MT-PC09 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hưng Yên bên trong chứa 0,182g Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

Trả lại bị cáo T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu HTC mầu vàng đã cũ, bên trong không lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu xanh đã cũ, bên trong có lắp sim số 0383869115; 01 sạc pin dự phòng mầu xám – trắng đã cũ; Số tiền 20.000đ.

Trả lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tạ Văn Q 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN mầu nâu, biển số 48F1-6366.

( Tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Yên Mỹ và Chi cục thi hành án huyện Yên Mỹ ngày 15/09/2020).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ