- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn C cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn C, Vì Văn Đ phạm tộiTàng trữ trái phép chất ma túy;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2020/HS-ST Ngày 20-4-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Long Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yên.
Ông Đỗ Đình Bản.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên toà: Ông Sa Văn Quỳnh- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng4 năm 2020, tại Nhà tạm giữ Công an huyê ̣n Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2020/TLST-HS ngày 06/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2020/QĐXXST- HS ngày 09/4/2020 đối với các bị cáo:
1. Hà Văn C, sinh năm 1997 tại huyện C, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không;quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Hà Văn K, sinh năm 1978 và bà Cầm Thị C, sinh năm 1980; có vợ Lò Thị T, sinh năm 1999 và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2019 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Vì Văn Đ, sinh năm 1993 tại huyện C, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không;quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Vì Văn T, sinh năm 1965 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1968; có vợ Lường Thị H, sinh năm 1994 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2019 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vì Văn Đ, sinh năm 1991. Trú tại:Tiểu khu B, thị trấn N, huyện C, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ ngày 20/12/2019 tại Tiểu khu P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an huyện Mộc Châu kiểm tra hành chính chiếc xe máy có BKS: 26P1 – 019.35 do Hà Văn C sinh năm 1997 tại huyện C, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện C, tỉnh Sơn La điều khiển phía sau chở Vì Văn Đ, sinh năm 1999 tại huyện C, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện C, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang Vì Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa 05 viên nén màu hồng, trên thân mỗi viên đều có chữ WY nghi là Methamphetamine; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, Exciter, BKS: 26P1- 019.35 của Vì Văn Đ.
Ngày 21 tháng 12 năm 2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định loại chất ma túy tang vật thu giữ của Hà Văn C và Vì Văn Đ: 05viên nén màu hồngnghi là Methamphetamine, có khối lượng 0,45 gam, lấy toàn bộ 0,45 gam kí hiệu Cgửi giám định chất ma túy tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.
Tại kết luận giám định số 103 ngày 25 tháng 12 năm 2019 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu C là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,45 gam; tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,45gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu hồng còn lại sau giám định thuộc mẫu giám định ký hiệu C, khối lượng là 0,20 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hà Văn C và Vì Văn Đ khai nhận:
Khoảng 22 giờ ngày 20/12/2019, C đến nhà Đ rủ Đ góp tiền đi mua ma túy để sử dụng chung, Đ đồng ý và đưa cho C số tiền 100.000đ. C điều khiển xe máy có BKS: 26P1 – 019.35 do Đ mượn của anh trai là Vì Văn D chở Đ đi đến khu vực tiểu khu P, thị trấn N thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, khoảng 30 tuổi. Qua trao đổi C đã hỏi và mua được 05 viên Methamphetamine được gói bằng mảnh giấy màu trắng với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, C và Đ điều khiển xe máy đi tìm địa điểm sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu đến kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vì Văn D khai nhận đã nhận lại được tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, Exciter, BKS: 26P1- 019.35 và không đề nghị gì thêm.
Tại phiên tòa các bị cáo Hà Văn C và Vì Văn Đ trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Tại bản Cáo trạng số 35/CT- VKS ngày 06 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Hà Văn C và Vì Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn C và Vì Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với các bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58Bộ luật Hình sự xử phạt Hà Văn C từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Vì Văn Đ từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụngđiểm ckhoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2Điều 106Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy:01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Hà Văn C và Vì Văn Đ, bắt ngày 20/12/2019: Bên trong đựng mảnh giấy màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi mẫu còn lại sau giám định, thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu C, có khối lượng là 0,20gam của vụ “ Hà Văn C và Vì Văn Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 20/12/2019 tại thị trấn N, huyện C, tỉnh Sơn La.
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã trả 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha - Exciter, BKS: 26P1- 019.35, số máy G3D4E-146021, số khung RLCUG0610FY133409, xe có một gương bên trái cho anh Vì Văn D và anh D không yêu cầu gì thêm.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án các bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Về tội danh:Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn C và Vì Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh , như đã khai tại cơ quan Điều tra , số ma túy
̀ bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu thu giữ có nguồn gốc các bị cáo mua được của một người đàn ông dân tộc Mông với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) vào ngày 20/12/2019, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của các bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hà Văn C và Vì Văn Đ do tổ công tác Công an huyện Mộc Châu lập vào hồi 23 giờ ngày 20/12/2019, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định,bản kết luận giám định số 103 ngày 25/12/2019 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La kết luận Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,45 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,45 gam; Loại Methamphetamine nằm trong danh mục II, Stt: 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX xét thấy: Các bị cáo Hà Văn C và Vì Văn Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 20/12/2019 các bị cáo Hà Văn C và Vì Văn Đ đã có hành vi tàng trữ 0,45 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của các bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Phân hóa vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án thấy rằng: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Hà Văn C là người khởi xướng chủ động rủ bị cáo Đ đi mua ma túy và sử dụng xe máy có BKS: 26P1 – 019.35 của anh Vì Văn D chở Đ đi mua ma túy.Bị cáo Vì Văn Đ là người cùnggóp tiền để mua ma túy, cùng đi mua và trực tiếp cất giấu ma túy. Do đó khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với cả hai bị cáo.
Về tình tiết định khung hình phạt:
- Hành vi của các bị cáo Hà Văn C và Vì Văn Đ không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
3 Về hinh phạt bổ sung :Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật
̀ Hình sựquy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đ (Năm triệu đồng) đến 500.000.000 đ (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
4 Về vật chứng, xử lý vật chứng:
- Đối với 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Hà Văn C và Vì Văn Đ, bắt ngày 20/12/2019: Bên trong đựng mảnh giấy màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi mẫu còn lại sau giám định, thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu C, có khối lượng là 0,20gam của vụ “ Hà Văn C và Vì Văn Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 20/12/2019 tại thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.Xét thấy đây là những vật cấm mua bán, lưu hành, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha - Exciter, BKS: 26P1- 019.35, số máy G3D4E-146021, số khung RLCUG0610FY133409, xe có một gương bên trái xác định là tài sản hợp pháp của anh Vì Văn D, việc bị cáo Đ mượn xe để sử dụng và đi mua ma túy anh D hoàn toàn không biết. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Đ, ngày 16/01/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã làm thủ tục giao trả chiếc xe máy trên cho anh Đại là đúng pháp luật cần chấp nhận.
5 Về các vấn đề khác:Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Hà Văn C và Vì Văn Đ, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
6 Về án phí: Buộc hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vàođiểm c khoản 1 Điều 249;điểm s khoản 1Điều 51; Điều 58Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn C, Vì Văn Đ phạm tộiTàng trữ trái phép chất ma túy;
1. Xử phạt bị cáo Hà Văn C 23 (Hai mươi ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 21/12/2019.Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
Xử phạt bị cáo Vì Văn Đ 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 21/12/2019.Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2.Về vật chứngcủa vụ án: Căn cứ điểm ckhoản 1Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2Điều 106Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy:01(một) Phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Hà Văn C và Vì Văn Đ, bắt ngày 20/12/2019: Bên trong đựng mảnh giấy màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01(một) Phong bì niêm phong bên ngoài ghi mẫu còn lại sau giám định, thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu C, có khối lượng là 0,20gam của vụ “ Hà Văn C và Vì Văn Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 20/12/2019 tại thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã làm thủ tục giao trả 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha - Exciter, BKS: 26P1- 019.35, số máy G3D4E-146021, số khung RLCUG0610FY133409, xe có một gương bên trái choanh Vì Văn D là chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng. Anh D không yêu cầu gì thêm.
3. Về án phí:Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Văn C, Vì Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanđến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - THAHS; - Sở Tư pháp ; - Bị cáo;người có QL,NVLQ đến vụ án; - Án văn, Lưu HSVA . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lƣơng Long Bình |