- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Y S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng Y S, tên gọi khác Giàng Ý S phạm tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2020/HS-ST. Ngày: 23/7/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tam và ông Mùi Văn Huấn.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2020/TLST- ST ngày 03 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo:
Giàng Y S; tên gọi khác, Giàng Ý S, sinh năm 1969, sinh tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Trú tại; X, xã P, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; Đảng phái, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông; Giàng A S và bà Sồng Thị C (đều đã chết ); bị cáo có chồng là Tràng A S, sinh năm 1971, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 24/3/2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 09 giờ 40 phút, ngày 24/3/2020, tổ công tác Công an huyện Vân Hồ, phối hợp với tổ công tác phương án 279 Công an tỉnh Sơn La, làm nhiệm vụ tại khu vực bản Co Chàm, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ tỉnh Sơn La. Kiểm tra xe máy BKS 28M1 – 006.73 do Giàng Y S điều khiển. Giàng Y S tự giác lấy trong túi vải màu đen giao nộp, 01 gói bằng nilon màu đen, bên trọng đựng 03 cục chất nhựa màu đen được gói bằng giấy nến màu trắng. Giàng Y S khai nhận đó là nhựa thuốc phiện S mua về, đang trên đường mang đi bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra thu giữ vật chứng gồm: 01 cân tiểu ly, 01 chiếc túi vải màu đen có dây đeo, 01 xe máy, 01 đăng ký xe máy mang tên Giàng Ý S, 01 điện thoại.
Cùng ngày quan CSĐT Công an huyện Vân Hồ, tiến hành cân tịnh khối lượng chất nhựa màu nâu, thu giữ của Giàng Y S kết quả: gói thứ nhất có khối lượng 18,58 gam, lấy 2,50 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu là S, còn lại 16,08 gam ký hiệu là S1; gói thứ hai có khối lượng 14,58 gam, lấy 3,43 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu là S2, còn lại 11,15 gam ký hiệu là S3; gói thứ ba có khối lượng 13,25 gam, lấy 4,13 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu là S4, còn lại 9,12 gam ký hiệu là S5. Mẫu giám định ký hiệu S, S2, S4 gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám đinh số 539 ngày 27/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu “S, S2, S4” đều là ma túy, loại Thuốc phiện; khối lượng của mẫu gửi giám định S = 2,50 gam S2 = 3,43 gam, S4 = 4,13 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 46,41 gam; loại Thuốc phiện( Không hoàn lại mẫu gửi giám định).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Giàng Y S khai nhận: Vào khoảng giữa tháng 2 năm 2020, Giàng Y S đi chợ Xà Lính, xã Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên và địa chỉ. Qua trao đổi Giàng Y S mua của người đàn ông đó 03 gói nhựa thuốc phiện với giá 1.000.000 đồng và hẹn khi nào Giàng Y S bán hết số nhựa thuốc phiện thì trả tiền mua ma túy. Sau khi mua được ma tuý, Giàng Y S mang về cất giấu tại lán nương của gia đình thuộc địa phận xóm X, xã P, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình. Trước khi bị bắt khoảng 02 tuần có một người đàn ông không quen biết, gọi điện thoại, hẹn bị cáo ngày 24/3/2020 mang thuốc phiện đến khu vực rừng già để bán cho người đó (Bị cáo không lưu và không nhớ số điện thoại). Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/3/2020, Giàng Y S lấy 03 gói nhựa thuốc phiện cho vào 01 túi vải màu đen rồi điều khiển xe máy BKS: 28M1 – 00673, đi tìm người mua để bán kiếm lời. Khi đến khu vực bản Co Chàm, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ tỉnh Sơn La thì bị Công an huyện Vân Hồ kiểm tra, bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số: 48/CT-VKS ngày 01/7/2020 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Giàng Y S về tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị tuyên bố Giàng Y S phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Giàng Y S từ 30 (Ba mươi) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c, khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị tuyên tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niên phong bên trong đựng 36,35 gam thuốc phiện và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 hộp gỗ có số 280 bên trong đựng 01 cân tiểu ly, 01 chiếc túi vải màu đen có dây đeo đã qua sử dụng, 01 phong bì niên phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Giàng Y S. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại NOKIA thu giữ của bị cáo.
Đề nghị trả cho bị cáo 01 chiếc xe máy BKS: 28M1 – 00673 màu đỏ đen bạc, số máy C43E-6231734, số khung 4325BY296962; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 00706 mang tên Giàng Ý Sau BKS: 28M1 – 00673.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản xác minh đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Ngày 24/3/2020, Giàng Y S bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 46,41 gam thuốc phiện mục đích để bán kiếm lời. Khối lượng ma túy đã vi phạm khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
. Tính chất hành vi của bị cáo: bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tàng trữ 46,41gam thuốc phiện, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vật chứng của bị cáo: Đối với 01 phong bì niên phong bên trong đựng 36,35 gam thuốc phiện và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 hộp gỗ có số 280 bên trong đựng 01 cân tiểu ly, 01 chiếc túi vải màu đen có dây đeo đã qua sử dụng, 01 phong bì niên phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Giàng Y S, là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy BKS: 28M1 – 00673 màu đỏ đen bạc, số máy C43E-6231734, số khung 4325BY296962; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và xe máy số 00706 mang tên Giàng Ý Sau BKS: 28M1 – 00673 là tài sản chung của gia đình bị cáo do vậy trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA thu giữ của bị cáo, bị cáo dùng vào việc liên lạc để bán ma túy, tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ, không có căn cứ để xử lý.
Đối với người đàn ông gọi điện hẹn mua ma túy của bị cáo, bị cáo không nhớ số điện thoại, không biết tên và địa chỉ, không có căn cứ để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Giàng Y S, tên gọi khác Giàng Ý S phạm tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Giàng Y S 03(Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c, khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niên phong bên trong đựng 36,35 gam thuốc phiện và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 hộp gỗ có số 280 bên trong đựng 01 cân tiểu ly, 01 chiếc túi vải màu đen có dây đeo đã qua sử dụng, 01 phong bì niên phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Giàng Y S.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo.
Trả cho bị cáo chiếc xe máy BKS: 28M1 – 00673 màu đỏ đen bạc, số máy C43E-6231734, số khung 4325BY296962; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và xe máy số 00706 mang tên Giàng Ý Sau BKS: 28M1 – 00673.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Giàng Y S phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng Nghiêm |