vanban.org

Bản án 48/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 09/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc A phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đào Ngọc A 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/01/2020). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Ngọc Anh - Phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc A phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2020/HS-ST
Ngày 09/07/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phùng Quốc Quân.

2. Ông Hà Văn Sơ.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/ 2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2020/HSST-QĐ ngày 30/6/2020 đối với bị cáo:

Đào Ngọc A (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06 tháng 07 năm 1993 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT: Tổ 2, phường Chiềng C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; trú tại: Tổ 2, phường Chiềng A, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Đào Ngọc T, sinh năm 1969 và bà Phạm Hồng Th, sinh năm 1965; có vợ là Lò Thị D, sinh năm 1993; có 01 con sinh năm 2018; Tiền án: 01 tiền án, ngày 11/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 01 năm 2020 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đào Ngọc T, sinh năm 1969. ĐKNKTT: Tiểu khu 5, thị trấn Yên Ch, huyện Yên Ch, tỉnh Sơn La. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Chị Lò Thị D, sinh năm 1993. ĐKNKTT: Tổ 2, phường Chiềng A, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 15/01/2020 tổ công tác Công an huyện Mai Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực bản Bôm Cưa, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Đào Ngọc A đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) gói nilon màu trắng có viền màu đỏ đen bên trong chứa 09 (chín) viên nén màu hồng và 03 (ba) gói trong đó 01 (một) gói được gói bằng dính màu đen lớp tiếp theo là giấy bạc bên trong chứa 05 (năm) viên nén màu hồng và 01 gói giấy bạc bên trong mỗi gói đều chứa 02 (hai) viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên nén đều có ký hiệu "WY".

- 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có một lớp nilon màu hồng có chứa các viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên nén đều có ký hiệu "WY".

- Ngoài ra còn thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone 7 Plus màu vàng trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen; 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng biển kiểm soát 26B2-464.83, số khung RLHJA3916KY338036, số máy JA39E12027G4.

Trên cơ sở lời khai của Đào Ngọc A cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp đối với người, chỗ ở, đồ vật của Đào Ngọc A tại tổ 2, phường Chiềng An, thành phố Sơn La. Kết quả khám xét không thu giữ gì.

Ngày 16/01/2020 Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh:

- 09 (chín) viên nén màu hồng trong gói ni lon màu trắng có viền đỏ đen có khối lượng 0,9 gam, lấy 0,4 gam làm mẫu ký hiệu M1 trưng cầu giám định.

- 05 (năm) viên nén màu hồng trong gói băng dính màu đen lớp tiếp theo quấn bằng giấy bạc có khối lượng 0,49 gam, lấy 0,3 gam làm mẫu ký hiệu M2 trưng cầu giám định.

- 170 (một trăm bảy mươi) viên nén màu hồng trong gói nilon màu xanh có khối lượng 15,42 gam, lấy 0,72 gam làm mẫu ký hiệu M3 trưng cầu giám định.

- 02 (hai) viên nén màu hồng trong gói giấy bạc thứ nhất có tổng khối lượng 0,20 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M4 trưng cầu giám định.

- 02 (hai) viên nén màu hồng trong gói giấy bạc thứ hai có tổng khối lượng 0,20 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M5 trưng cầu giam định.

Tổng khối lượng 188 (một trăm tám mươi tám) viên nén màu hồng trong 02 (hai) nilon thu giữ khi bắt quả tang Đào Ngọc A có khối lượng là 17,21 gam, trích rút 1,82 gam gửi làm mẫu giám định, còn lại 15,39 gam niêm phong lưu kho vật chứng.

Tại kết luận giám định số 244 ngày 17/01/2020 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5 đều là ma tuý; Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,82 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 17,21 gam; Loại Methamphetamine”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Ngày 16/01/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ra quyết định số 152 trưng cầu giám định số tiền 1.500.000 đồng thu giữ của Đào Ngọc A. Kết luận giám định số 293 ngày 07/02/2020 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Số tiền gửi giám định là tiền thật. Hoàn lại toàn bộ số tiền gửi giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đào Ngọc A khai nhận như sau: Do có mối quan hệ quen biết với Ph từ trước (không biết địa chỉ), biết Ph là người sử dụng chất ma túy. Đến 17 giờ 30 phút ngày 15/01/2020 khi Ngọc Anh đang ở nhà tại tổ 2, phường Chiềng An, thành phố Sơn La thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời nên đã gọi điện thoại cho Phớ hỏi mua Hồng phiến. Phớ đồng ý bán với giá 01 túi hồng phiến là 6.000.000VNĐ. Ngọc A và Phớ hẹn nhau tại khu vực bản Phát, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn để mua bán ma túy. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Ngọc Anh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA- WAVE biển kiểm soát 26B2-464.83 đi từ nhà đến địa điểm đã hẹn và gọi điện thoại bảo Phớ đến. Khoảng 10 phút sau Phớ điều khiển xe mô tô đến và bảo Ngọc A điều khiển xe mô tô đi theo Ph vào khu vực đường đất dân sinh thuộc bản Bôm Cưa, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, Ngọc A đưa 6.000.000 đồng cho Phớ. Phớ nhận tiền rồi đi đến cống thoát nước ven đường lấy 02 gói nilon bên trong chứa các viên hồng phiến và đưa cho Ngọc Anh. Mua được Hồng phiến Ngọc A cất giấu vào túi áo khoác đang mặc rồi điều khiển xe đi ra đường quốc lộ 6, đi được khoảng 500m thì thấy tổ công tác Công an huyện Mai Sơn đang làm nhiệm vụ nên Ngọc A đã bỏ xe lại chạy bộ và nhảy xuống ao nước ven đường thuộc bản Bôm Cưa, xã Chiềng Mung thì bị tổ Công tác Công an huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ Đào Ngọc A khai mua của người đàn ông tên Ph (không biết địa chỉ) tại khu vực bản Bôm Cưa, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn. Quá trình xác minh tại bản Bôm Cưa, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn không có ai tên Ph. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.

Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 47/CT-VKSMS ngày 04/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Đào Ngọc A về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đào Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Mua trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Đào Ngọc A từ 10 (mười) đến 11 (mười một) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 15,39 (mười năm phẩy ba mươi chín) gam Methamphetamine; 01 (một) vỏ phong bì niêm phong bóc mở ban đầu; các mảnh giấy bạc, mảnh băng dính đen, mảnh nilon màu xanh, mảnh nilon màu hồng; 01 (một) que thử nước tiểu xét nghiệm ma túy; 01 (một) chiếc áo rét màu đen (kiểu áo phao) có dán nhãn ghi "Made in Japan", áo đã qua sử dụng cũ.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen.

Trả lại cho bị cáo Đào Ngọc A: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 Plus vỏ màu vàng trắng.

Trả lại cho ông Đào Ngọc Tuấn: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng biển kiểm soát 26B2-464.83, số khung RLHJA3916KY338036, số máy JA39E12027G4.

Trả lại cho chị Lò Thị D: Số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Ngọc A nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh ông Đào Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi ý kiến đến Hội đồng xét xử, do đó việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T.

Về hành vi của bị cáo thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo Đào Ngọc A giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án khai nhận: Ngày 15/01/2020 Đào Ngọc A đã có hành vi cất giấu trái phép 17,21 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiến lời thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 19 giờ 30 phút ngày 15/01/2020 tại bản Bôm Cưa, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La cùng vật chứng thu giữ là 188 (một trăm tám mươi tám) viên nén màu hồng được cất dấu trong 02 (hai) nilon có khối lượng là 17,21 gam; Lệnh khám xét khẩn cấp; Biên bản khám xét; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu thu; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 244 ngày 17/01/2020 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Tòng Văn Thơn là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo...và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đào Ngọc A đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn và Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oai sai.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 11/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h “tái phạm” khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Phớ bán ma túy cho bị cáo Đào Ngọc A (Anh không biết rõ tên tuổi, địa chỉ). Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.

Vật chứng vụ án:

Đối với 15,39 (mười năm phẩy ba chín) gam có các ký hiệu T1, T2, T3 còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) vỏ phong bì niêm phong bóc mở ban đầu; các mảnh giấy bạc, mảnh băng dính đen, mảnh nilon màu xanh, mảnh nilon màu hồng; 01 (một) que thử nước tiểu xét nghiệm ma túy; 01 (một) chiếc áo rét màu đen (kiểu áo phao) có dán nhãn ghi "Made in Japan", áo đã qua sử dụng cũ là vật không còn giá trị sử dụng, vật bị cáo dùng để cất giấu ma túy nên cần tịch thu tiêu huỷ. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 Plus vỏ màu vàng trắng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên qua đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Lò Thị Diên không liên qua đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho chị Diên quản lý sử dụng. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng biển kiểm soát 26B2-464.83, số khung RLHJA3916KY338036, số máy JA39E12027G4, xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Đào Ngọc Tuấn, việc bị cáo dùng làm phương tiện đi mua ma túy ông T không biết, không tham gia nên cần trả lại cho ông Tuấn quản lý sử dụng. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc A phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đào Ngọc A 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/01/2020).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 0,5 (không phẩy năm) gam Methamphetamine ký hiệu T1; 0,19 (không phẩy mười chín) Methamphetamine ký hiệu T2; 14,7 (mười bốn phẩy bảy) Methamphetamine ký hiệu T3; 01 (một) vỏ phong bì niêm phong bóc mở ban đầu; các mảnh giấy bạc, mảnh băng dính đen, mảnh nilon màu xanh, mảnh nilon màu hồng; 01 (một) que thử nước tiểu xét nghiệm ma túy; 01 (một) chiếc áo rét màu đen (kiểu áo phao) có dán nhãn ghi "Made in Japan", áo đã qua sử dụng cũ.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen của bị cáo Đào Ngọc A.

Trả lại cho bị cáo Đào Ngọc A: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 Plus vỏ màu vàng trắng.

Trả lại cho ông Đào Ngọc T: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu trắng biển kiểm soát 26B2-464.83, số khung RLHJA3916KY338036, số máy JA39E12027G4, xe đã qua sử dụng cũ.

Trả lại cho chị Lò Thị D: Số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 8/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Đào Ngọc A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/7/2020); Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ