vanban.org

Bản án 48/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân, chấp nhận yêu cầu của chị Mã Hồng T về việc xin ly hôn anh Nguyễn Minh T1.

Về con chung là Nguyễn Hữu Tiến, sinh ngày 22/12/2004, hiện con đang chung sống với anh T1, tiếp tục giao con cho anh T1 nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Chị T có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân, chấp nhận yêu cầu của chị Mã Hồng T về việc xin ly hôn anh Nguyễn Minh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2020/HNGĐ-ST
Ngày 07 – 5 – 2020
Về việc ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Hoàng Khởi.

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Kiều – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 996/2019/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 12 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mã Hồng T; Địa chỉ: ấp 3, xã T, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T1; Địa chỉ: ấp 3, xã T, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về hôn nhân, chị Mã Hồng T và anh Nguyễn Minh T1 chung sống với nhau vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng đến năm 2015 giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được nguyên nhân theo chị T trình bày là do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn dẫn đến quan điểm sống giữa vợ chồng không hòa hợp, thường hay cải vã với nhau và cả hai đã sống ly thân từ tháng 7/2016 cho đến nay, cuộc sống nạnh ai nấy lo, không ai quan tâm đến ai. Tại toà, chị T xác định không còn tình cảm với anh T1 nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung, chị Tươi khai có 01 người con là Nguyễn Hữu Tiến, sinh ngày 22/12/2004, hiện con đang chung sống với anh T1. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Tiến, có nguyện vọng xin được chung sống với anh T1.

Về tài sản chung và nợ chung, chị T khai không có.

Đối với anh Nguyễn Minh T1, tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T nên Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng, anh Nguyễn Minh T1 đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T1.

Về hôn nhân, chị Mã Hồng T và anh Nguyễn Minh T1 chung sống với nhau vào năm 2003, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại phiên toà, chị T khai nhận mâu thuẫn chủ yếu là do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn dẫn đến bất đồng ý kiến trong cuộc sống, vợ chồng thường hay cải với nhau và mâu thuẫn ngày càng gay gắt, trầm trọng nên anh, chị đã sống ly thân từ hơn 04 năm nay, hiện chị cũng không còn tình cảm với anh T1. Trường hợp Toà án không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, chị cũng không trở về chung sống với anh T1. Đối với anh T1 tuy đã được triệu tập hợp lệ, song anh vẫn vắng mặt và trong thời gian giải quyết vụ án, anh không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như lời trình bày của chị T. Cho nên, lời trình bày của chị T về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian sống ly thân là đúng nên yêu cầu của chị T về hôn nhân được chấp nhận.

Về con chung là Nguyễn Hữu Tiến, sinh ngày 22/12/2004, hiện con đang chung sống với anh T1. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Tuy nhiên, không phải giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi thì người không trực tiếp nuôi con bị tước đi các quyền chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Hơn nữa, việc chị T và anh T1 ly hôn đã phần nào xáo trộn tâm lý, cuộc sống bình thường của cháu Tiến nên cần phải hạn chế đến mức thấp nhất việc ảnh hưởng tâm lý và bảo đảm được việc học hành, sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần của cháu. Mặc dù, chị T trình bày có đủ điều kiện nuôi dạy con nhưng nguyện vọng của cháu Tiến được chung sống với anh T1 nên cần tôn trọng ý kiến của cháu là hợp lý.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, tuy đã được giải thích nhưng chị T không đồng ý cấp dưỡng, chị cho rằng khi có tiền tự chị sẽ cấp dưỡng cho con mà không yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản và nợ chung, chị T khai không có nên không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, chị T phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân, chấp nhận yêu cầu của chị Mã Hồng T về việc xin ly hôn anh Nguyễn Minh T1.

- Về con chung là Nguyễn Hữu Tiến, sinh ngày 22/12/2004, hiện con đang chung sống với anh T1, tiếp tục giao con cho anh T1 nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.

Chị T có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung, chị Mã Hồng T khai không có nên không xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Mã Hồng T phải chịu số tiền là 300.000đ. Ngày 17/12/2019, chị T đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai số 0001174 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Chị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ