- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị H ly hôn Nguyễn Khánh H"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Khánh H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2020/HNGĐ-ST Ngày: 01-7-2020 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Xươnne
2. Bà Tăng Thị Bạch Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà: Trần Thị Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Đặng Xuân Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 116/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2020/QĐXX-ST ngày 28 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1981.
Địa chỉ: số xxx, ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh S.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Khánh H, sinh năm 1980.
Địa chỉ: số xxx, ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh S.
(Chị Hạnh có mặt; anh Hòa vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày:
Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Khánh H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn An Lạc Thôn, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vào năm 2007. Quan hệ vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả.
Về con chung: Chị Hvà anh H có 02 con chung tên là Nguyễn Minh T, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 22/6/2009.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Khánh H.
Chị Hạnh yêu cầu được nuôi 02 con chung tên là Nguyễn Minh T, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 22/6/2009. Không yêu cầu anh Hcấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Khánh H (vắng mặt)
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và tư cách của người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy quan hệ vợ chồng giữa chị Hạnh và anh Hòa đã mâu thuẫn trầm trọng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Hạnh.
Về con chung: Do 02 con chung tên là Nguyễn Minh T, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 22/6/2009 hiện nay đang ở cùng với chị Hạnh và cũng phù hợp với nguyện vọng của cả 02 con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao 02 con chung tên là Nguyễn Minh T, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 22/6/2009 cho chị Hanh tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên Tòa, do chị Hkhông có yêu cầu nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung do đương sự khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vắng mặt không rõ lý do và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời bị đơn không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ và đúng với quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dấn sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Bỡi lẽ, bị đơn nhiều lần cố tình vắng mặt, chứng tỏ bị đơn không có ý định mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với nguyên đơn. Đồng thời, tại phiên Tòa, nguyên đơn cương quyết yêu cầu ly hôn với bị đơn và cũng xác định không còn tình cảm gì dành cho bị đơn nữa. Vì vậy, đã đủ cơ sở để xác định cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn là có căn cứ và chính đáng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: theo lời khai của nguyên đơn cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên là Nguyễn Minh Thuận, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Thị Hoài Thương, sinh ngày 22/6/2009, hiện đang ở cùng với nguyên đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, 02 con chung đều có nguyện vọng “được sống với mẹ là Phạm Thị H”. Xét thấy, để tránh những xáo trộn trong đời sống, tâm sinh lý, gây ra những ảnh hưởng không tốt đến việc phát triển bình thường của con chung, và cũng phù hợp với nguyện vọng của 02 con chung. Cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của nguyên đơn, tiếp tục giao 02 con chung tên là Nguyễn Minh Thuận, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Thị Hoài Thương, sinh ngày 22/6/2009 cho nguyên đơn nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do nguyên đơn không có yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con, đồng thời cũng không có ý kiến tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của bị đơn nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử phải đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn khai không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Về án phí HNST: Nguyên đơn phải chịu án phí HNST.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, Điều 227, khoản 3, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Khánh H.
[2] Về con chung: Giao 02 con chung tên là Nguyễn Minh T, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 22/6/2009 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Anh Nguyễn Khánh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Khánh H không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên là Nguyễn Minh T, sinh ngày 08/12/2006 và Nguyễn Thị Hoài T, sinh ngày 22/6/2009 do chị H không có yêu cầu.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị Phạm Thị H khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[5] Về án phí, chi phí tố tụng: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002735 ngày 09/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách không phải nộp tiếp.
Án xử công khai, chị Phạm Thị H có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án. Anh Nguyễn Khánh H không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - CCTHADS huyện Kế Sách; - UBND xã (thị trấn) cấp giấy CNKH - Lưu HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Hải Duy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hải Duy |