vanban.org

Bản án 48/2019/QĐ

TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Tuyên án 14/05/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 (ba mươi) tháng . Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Văn C cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Văn C - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊNTHÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/HSST
Ngày 14 - 5 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.ông Nguyễn Đình Bảng

2. ông Phạm Xuân Thanh.

- Thư ký phiên toà: ông Đào Quang Sáng - Chức vụ: Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: bà Dương Thị Kim Tình - Chức vụ kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2019/TLST - HS, ngày 24 tháng 4 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2019/QĐ XXST-HS ngày 02/5/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn C (tên gọi khác: không); giới tính: nam - sinh ngày 25 tháng 01 năm 1989; Nơi ĐKHKTT: xóm 2, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông: Trần Sóng T, sinh năm 1960 (chết) và bà Thái Thị Q - sinh năm 1962; vợ: Hồ Thị H - sinh năm 1996; con: có 01 người, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2018 đến ngày 18/12/2018, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/02/2019 đến nay (có mặt tại phiên tòa);

- Bị hại: Cháu Nguyễn Thị TM - sinh ngày 08/01/2013 (chết); trú tại: xóm 6, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Đại diện hợp pháp cho bị hại nguyễn Thị TM: ông Nguyễn Trọng T - sinh năm 1974; trú tại : xóm 6, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (bố đẻ của cháu M - vắng mặt);

Chị Nguyễn Thị L - sinh ngày 06/9/2000; trú tại: xóm 6, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)

- Nhân chứng: Bà Chu Thị H - sinh năm 1975; trú tại: xóm 6, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An ( vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Trần Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 13 giờ, ngày 15/12/2018, chị Chu Thị H điều khiển xe mô tô BKS 37B1 - 46756 và chị Nguyễn Thị L, điều khiển xe mô tô BKS 37P1 - 31150 chở theo sau là cháu Nguyễn Thị M (chị L và cháu M đều là con gái của chị H) cùng điều khiển xe đi từ hướng xã P, huyện Y về xã B, huyện Y. Khi chị H và cháu L điều khiển xe đến km 13 + 150 thuộc địa phận khối 2 thị trấn Y thì chị H điều khiển xe mô tô BKS 37B1 - 46756 chạy phía trước còn chị L điều khiển xe mô tô BKS 37P1 - 31150 chạy theo phía sau. Do không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước nên xe mô tô của chị L đâm vào phía sau xe mô tô của chị H khiến cả hai xe đều bị ngã ở phần đường bên phải Quốc lộ 7B hướng từ thị trấn Y lên xã B. Ngay lúc đó, bị cáo C là lái xe của Công ty cổ phần xây dựng và đầu tư phát triển T có địa chỉ: Tầng 3, lô 5A 5B, đại lộ Lênin, TP V, Nghệ An; điều khiển xe ô tô BKS 37C - 29223 chạy theo hướng từ xã T xuống thị trấn Y vừa đi tới. Do không chú ý quan sát, đi không đúng phần đường quy định nên các bánh xe phía bên trái của xe ô tô đã cán và kéo lê xe mô tô BKS 37P1 - 31150 và cháu Nguyễn Thị M, còn chị Nguyễn Thị L thì bị bánh xe phía trước bên trái của ô tô cán và kéo lê. Sau va chạm C đã dùng chân đạp mạnh chân phanh nhưng xe ô tô trượt một đoạn dài 30,1m mới dừng lại được. Hậu quả làm cháu Nguyễn Thị M trên đường đưa đi cấp cứu thì chết còn chị Nguyễn Thị L bị thương nặng, xe mô tô BKS 37P1 -31150 bị hỏng nặng. Say khi xảy ra tai nận, C đã đến Công an huyện Yên Thành đầu thú.

Ngày 17/12/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành tiến hành kiểm tra tải trọng của xe ô tô 37C - 29323, xác định: Tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô 37C - 29323 chở hàng vượt quá trọng tải thiết kế là 31,11%.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vào hồi 13 giờ 20 phút, ngày 15/12/2018 thể hiện: Mặt đường nhựa Quốc lộ 7B rộng 15m. Vị trí của trục bánh xe phía trước đầu tiên của xe ô tô 37 C - 29323 vết máu có kích thước 35cm x 80cm, điểm cuối của vết phanh của xe ô tô cách mép đường đường nhựa phía Bắc 7,97m, trục sau cuối bên trái của xe ô tô cách mép đường phía Bắc 7,5m. Vị trí của xe mô tô BKS 37P1 - 31150 trục bánh hướng Nam cách mép đường nhựa phía Bắc 6,65m, trục bánh sau hướng Bắc cách trục đường nhựa phía Bắc 5,45m. Vị trí xe mô tô BKS 37B1 - 46765 cách mép đường nhựa phái Bắc 3,8m, trục bánh sau cách mép đường nhựa phía Bắc 4,65m. Vết cày xước trên mặt đường nhựa song song với mặt đường, kích thước 4,5m x 62cm, hướng Tây - Đông. Điểm đầu vết cày xước cách mép đường nhựa phía Bắc 6,9m, cách trục bánh xe ô tô phía trước đầu tiên bên trái 30,1m; điểm cuối vết cày xước cách mép đường nhựa phía Bắc 4,75m; điểm trong cách mép đường nhựa phía Bắc 4,3m. Vị trí vết cày trên mặt đường nhựa hướng Đông - Tây trong ra ngoài, điểm trong cách mép đường nhựa phía Bắc 6,25m. Vị trí vết phanh của xe ô tô kích thước 30,1m x 33cm, hướng Đông - Tây, cách mép đường nhựa phía Bắc 6,9m; điểm cuối của vết phanh ở dưới mặt lốp cách bánh trước đầu tiên bên trái cách mép đường nhựa phía Bắc 7,79m.

Ngày 28/12/2018, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An có bản kết luận giám định số 41/KLGĐ PC0 (DVCH) kết luận.

“ Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô 37P1 -31150 và xe mô tô 37B1 - 46765 di chuyển cùng chiều trên đường Quốc lộ 7B theo hướng từ xã H đi B. Xe ô tô 37C - 29323 di chuyển ngược chiều với chiều di chuyển của xe mô tô 37P1 -31150 và xe mô tô 37B1 - 46765

- Xe mô tô 37P1 -31150 và xe mô tô 37B1 - 46765 có va chạm với nhau, vị trí va chạm đầu tiên trên xe mô tô 37P1 -31150 và xe mô tô 37B1 - 46765 là ở đuôi chắn bùn phía sau. Vị trí va chạm trên hiện trường là ở phần đường bên phải quốc lộ 7B theo hướng từ xã H đi xã B.

Xe mô tô 37P1 - 31150 và xe ô tô 37C - 293.23 có va chạm với nhau. Vị trí va chạm đầu tiên trên xe mô tô 37P1-311.50 và xe ô tô 37C - 293.23 trên xe mô tô 37P1 - 31150 là ở bánh trước bên trái của xe. Tư thế va chạm: khi xảy ra va chạm xe ô tô 37C - 293.23 đang di chuyển, xe mô tô 37P1 - 31150 ngã nằm trên mặt đường. Vị trí va chạm trên hiện trường: ở phần đường bên phải Quốc lộ 7B theo hướng từ xã H đi xã B.

Xe ô tô 37C - 293.23 có và chạm với cơ thể của cháu Nguyễn Thị M vị trí và chạm đầu tiên trên xe ô tô 37C - 293.23 và trên cơ thể cháu M: Trên xe ô tô 37C - 293.23 là ở bánh trước bên trái xe, trên cơ thể cháu M là ở phần dưới cơ thể. Vị trí va chạm trên hiện trường là phần đường phía bên phải đường Quốc lộ 7B theo hướng xã từ xã H đi xã B.

- Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn, tốc độ của xe ô tô 37C - 293.23 là khoảng 73km/h, không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô 37P1 - 31150 và xe mô tô 37B1 - 467.65.

Tại bản kết luận số 40/KL-PC09 (PY) ngày 14 tháng 01 năm 2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: nguyên nhân chết của cháu Nguyễn Thị M là “suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp do đa chấn thương”.

Ngày 26 tháng 02 năm 2019 gia đình chị Nguyễn Thị L có đơn xin từ chối giám đinh thương tật, do vậy Cơ quan điều tra không tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật đối với chị L là đúng quy định.

Như vậy bị cáo Trần Văn C khi điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 37C 293.23 tham gia giao thông đường bộ đã không đi bên phải theo chiều đi của mình, không đi đúng làn đường, phần đường quy định theo quy định tại khoản 1 Điều 9 luật giao thông đường bộ.

-Vật chứng của vụ án : 01 xe ô tô biển kiểm soát 37C - 293.23 nhãn hiệu CNHTC màu nâu loại: ô tô tải tự đổ, số máy: 170919037, số khung: LZZ5EXSB5HN287543, khối lượng bản thân 15250kg, xe đã qua sử dụng.; một xe mô tô biển kiểm soát 37B1 - 467.65 nhãn hiều HONDA WAVE α màu: đỏ-đen-bạc xe đã qua sử dụng; một xe mô tô biển kiểm soát 37P1 - 31150 màu xanh nhãn hiệu HONDA VISION đã qua sử dụng xe bị biến dạng và hư hỏng nặng. Cơ quan cảnh sát đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 37B1 - 467.65 nhãn hiều HONDA WAVE α màu: đỏ-đen-bạc và xe mô tô biển kiểm soát 37P1 - 31150 màu xanh nhãn hiệu HONDA VISION cho anh Nguyễn Trọng T là chồng của chị Chu Thị H, trả lại xe ô tô 37C - 293.23 cho Công ty xây dựng và đầu tư phát triển T.

-Về dân sự: trong quá trình điều tra bị cáo C đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền 645.000.000 đồng trong đó tiền bồi thường cho cháu Nguyễn Thị Trà My là 100.000.000 đồng, tiền viện phí và lắp chân giả cho chị Nguyễn Thị Ly là 205.000.000 đồng, tiền hỗ trợ cho chị Ly là 300.000.000 đồng. Tiền đền bù mua xe mới 40.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKS-HS, ngày 19 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố Trần Văn Châu về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định pháp luật:

- Xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 15 - 18 tháng nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách từ 30 - 36 tháng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ, gia đình người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 26/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ buộc tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa công khai bị cáo Trần Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo; sơ đồ hiện trường vụ tại nạn, biên bản khám xét phương tiện gây tai nạn, khám nghiệm tử thi; bản khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại; người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ do cơ quan điều tra, thu thập là hoàn toàn phù hợp với nhau.Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và Thẩm phán huyện Yên Thành thì trong quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại; người bị hại; nhân chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trần Văn C khi tham gia giao thông đường bộ đã không đi đúng phần đường quy định nên đã gây ra vụ tại nạn nghiêm trọng hậu quả làm cháu Nguyễn Thị TM tử vong; chị Nguyễn Thị L bị gãy 1 chân. Bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008 và phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”. Nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố Trần Văn C về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định.

Đây là một vụ án nghiêm trọng. Hành vi tham gia giao thông gây tai nạn của Trần Văn C là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng của cháu M được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo Trần Văn C nhận thức được rằng: Khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông, nếu không tuân thủ khi vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm. Mặc dù nhận thức được như vậy, nhưng khi tham gia giao thông bị cáo không tuân thủ, không làm chủ được tốc độ nên đã gây ra hậu quả làm cháu M chết, chị L bị thương nặng vì vậy cần xử lý nghiêm.

Căn cứ vào sơ đồ hiện trường các tài liệu có tại hồ sơ thấy rằng phần lỗi gây ra hậu quả phần lớn thuộc về phía bị cáo; đối với phía bị hại cũng có một phần lỗi do chiếc xe chị L chở cháu M khi tham gia giao thông không giữ khoảng cách an toàn nên đâm vào phía sau xe của chị H nên cả hai xe đều ngã xuống đường và đã xảy ra hậu quả ngoài ý muốn của bị cáo do đó cũng xem xét cân nhắc cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hậu quả xảy ra ngoài ý muốn của bị cáo, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại xảy ra cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn xin bãi nại trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi vụ việc xảy ra bị cáo đã đến cơ quan công an huyện Yên Thành để đầu thú được quy định tại điểm b,s khoản 1; khoản 2 điều 51 BLHS; ngoài ra bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân; vì vậy không nhất thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà tiếp tục giao cho gia đình và địa phương quản lý, giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Nhưng xét bị cáo kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp cho người bị hại cháu Nguyễn TM; chị Nguyễn Thị L đều vắng mặt. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án thì phía bị cáo và gia đình bị hại đã giải quyết với nhau về phần dân sự xong, không có ý kiến gì thêm và có đơn xin bãi nại trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng:

- 01 xe ô tô biển kiểm soát 37C - 293.23 nhãn hiệu CNHTC màu nâu loại: ô tô tải tự đổ, số máy: 170919037, số khung: LZZ5EXSB5HN287543, khối lượng bản thân 15250kg, xe đã qua sử dụng ;

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 37B1 - 467.65 nhãn hiệu HONDA WAVE α màu: đỏ - đen-bạc xe đã qua sử dụng;

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 37P1 - 31150 màu xanh nhãn hiệu HONDA VISION đã qua sử dụng xe bị biến dạng và hư hỏng nặng.

Cơ quan cảnh sát đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 37B1 - 467.65 nhãn hiều HONDA WAVE α màu: đỏ-đen-bạc và xe mô tô biển kiểm soát 37P1 - 31150 màu xanh nhãn hiệu HONDA VISION cho anh Nguyễn Trọng T là chồng của chị Chu Thị H, trả lại xe ô tô 37C - 293.23 cho Công ty xây dựng và đầu tư phát triển T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ, gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn C xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 (ba mươi) tháng . Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn C cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo..

-Án phí: Căn cứ điều 147; điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Trần Văn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án lên tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ