vanban.org

Bản án 48/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 17/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/5/2019. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số Hêrôin thu giữ của Phạm Văn C còn lại sau giám định là 0,3613 gam đựng trong phong bì niêm phong số 150/KLGĐ ngày 09/5/2019 và 01 bơm kim tiêm; 01 ốn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chinh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/HSST
Ngày 17 - 7 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Hạnh Mỹ

2. Ông Phạm Mã Siêu

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2019/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2019 theo Quyết đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2019 đối với:

Bị cáo Phạm Văn C, sinh năm 1991, tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; số CCCD: 03409100735; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị L; vợ: Bạch Thị L (đã ly hôn năm 2018); con: Có 01 con sinh năm 2014; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2019 sau chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tiền Hải.

(Bị cáo được trích xuất, có mặt tại phiên toà)

* Người làm chứng:

+ Ông Trần Văn L, sinh năm 1954 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

+ Ông Trần Quốc T, sinh năm 1960 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 09/5/2019, tại khu vực trước cổng Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa Lân thuộc Bộ chỉ huy bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình phối hợp cùng Công an huyện Tiền Hải phát hiện bắt quả tang Phạm Văn C đang có hành vi tàng trữ tại túi quần bên phải phía trước 01 gói, bên ngoài được gói bắng giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, C khai là ma túy vừa mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân. Qua giám định gói có chứa chất bột dạng cục màu trắng thu của C là ma túy, loại Hêrôin có khối lượng 0,4320 gam.

Quá trình điều tra bị cáo Phạm Văn C khai nhận: Ngày 09/5/2019, Chinh đi từ nhà đến khu vực ngã tư chợ N, huyện T, tỉnh Thái Bình để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây C gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên tuổi địa chỉ 01 gói ma túy, bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Sau khi mua được ma túy C cho vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và đi tìm địa điểm để sử dụng ma túy. Khi C đi đến khu vực cổng ủy ban nhân dân xã N, huyện T thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa Lân và Công an huyện Tiền Hải yêu cầu làm việc. Qua giải thích của tổ công tác, C khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy trên người. Tổ công tác đã yêu cầu C và mời người làm chứng về Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T để làm việc. Tại đây trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương, người làm chứng, C đã tự giác dùng tay phải lấy trong túi quần bên phải phía trước C đang mặc ra 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, một bơm kim tiêm và một ống novocain 3% giao nộp cho tổ công tác. Chinh khai đó là gói ma túy của C mua về mục đích để sử dụng cho bản thân.

Vật chứng của vụ án: Đồn biên phòng Cửa Lân và Công an huyện Tiền Hải đã lập biên bản quản lý và niêm phong 01 gói, bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục.

Kết quả giám định đối với gói chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của Phạm Văn C: Tại bản Kết luận giám định số 150/KLGĐ - PC09 ngày 09/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Phạm Văn C là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,4320 gam.

Tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKSTH, ngày 25/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố Phạm Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn C mức án từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/5/2019; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và các vấn đề khác có liên quan đến vụ án.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Phạm Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sửa chữa sai lầm sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn C tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra cũng như trong giai đoạn truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ như:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Đồn Biên phòng Cửa Lân lập hồi 10 giờ 10 phút ngày 09/5/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Đồn Biên phòng Cửa Lân lập hồi 11 giờ 20 phút ngày 09/5/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Đồn Biên phòng Cửa Lân lập hồi 11 giờ 35 phút ngày 09/5/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Bản kết luận giám định số 150/KLGĐ – PC09 ngày 09/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

- Lời khai của những người chứng là ông Trần Văn L và ông Trần Quốc T.

Xét thấy các tài liệu, chứng cứ nêu trên phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn C về địa điểm, thời gian, hành vi phạm tội.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cở sở xác định: Với mục đích để sử dụng cho bản thân, khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 09/5/2019, tại khu vực trước cổng Uỷ ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đồn Biên Phòng Cửa Lân thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thái Bình phối hợp với Công an huyện Tiền Hải phát hiện bắt quả tang Phạm Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 0,4320 gam Hêrôin. Hành vi của bị cáo đã phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cooca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

.................................................

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội. Ma túy là chất độc hại gây nghiện, hủy hoại sức khỏe của con người, làm suy thoái nòi giống, là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS đồng thời cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản…, vì vậy mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và hoàn toàn hiểu được tác hại của ma túy. Tuy nhiên do bị cáo thiêu bản lĩnh, chơi bời đua đòi nên bị cáo đã lâm vào con đường nghiện ngập rồi dẫn đến phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi mà bị cáo đã gây ra. Có như vậy mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật nước ta và có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong qúa trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự từ tháng 9/2010 đến tháng 01/2012 được xuất ngũ về địa phương. Do đó bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diệnViện kiểm sát là có căn cứ là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc 0,4320 gam hêrôin quản lý của Phạm Văn C, C khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ cụ thể ở khu vực ngã tư chợ xã N, huyện T Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải không có đủ cơ sở điều tra, xác minh làm rõ người đã bán ma túy cho C để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Xác định 0,3613 gam Hêrôin sau khi giám định còn lại cùng bao gói trong bao niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 150/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 bơm kim tiêm; 01 ống novocain 3% là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô BKS: 17B6 – 187.51 Chinh sử dụng để đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị M là chị gái C, việc C lấy xe đi mua ma túy chị M không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải đã trả lại xe cho chị Minh là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn C phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 09/5/2019.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số Hêrôin thu giữ của Phạm Văn C còn lại sau giám định là 0,3613 gam đựng trong phong bì niêm phong số 150/KLGĐ ngày 09/5/2019 và 01 bơm kim tiêm; 01 ống novocain 3%

(Các vật chứng trên đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải thu giữ, chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải quản lý theo biên bản giao ngày 25/6/2019).

4. Án phí: Bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 17/7/2019.

Cỡ chữ