vanban.org

Bản án 48/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 06/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

HDH: 20 (hai mươi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”. Thời hạn tù tính từ ng y 29/12/2017.

DVB: 20 (hai mươi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”. Thời hạn tù tính từ ng y 08/11/2018. Phạt tiền mỗi b cáo 20.000.000đ (hai mươi triệu) đồng để sung quỹ Nh nước Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HDH - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? HDH: 20 (hai mươi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”. Thời hạn tù tính từ ng y 29/12/2017.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:48/2019/HS-ST
Ngày 06-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: B V Th Thanh V n

Thẩm phán: Ông Đặng Minh Hạnh

Hội thẩm nhân dân:

B Nguyễn Th Luyến

Ông Nguyễn Đức Mạnh

Ông Nguyễn Huy Vĩnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Th Mai Phương – Thẩm tra viên Toà án nhân d n th nh phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xu n Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nh n d n th nh phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 140/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2019 và Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 320/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2019 đối với b cáo:

1. HDH, sinh năm 1957 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 23 đường A, phường B, quận C, th nh phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông D (đã chết) và bà E; có vợ là F và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 16/HSST ngày 20/8/1982, Tòa án nhân dân huyện Đồ Sơn, th nh phố Hải Phòng xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm thể lệ quản lý v khí chất nổ”; tại bản án số 179/HSST ngày 10/6/1997, Tòa án nh n d n th nh phố Hải Phòng xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngo i” (đã được xóa án tích); b bắt tạm giam từ ngày 29/12/2017; có mặt.

2. DVB, sinh năm 1965 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện I, th nh phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông J (đã chết) và bà K; có vợ là L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; b bắt tạm giam từ ng y 08/11/2018; có mặt.

Bị hại:

Ông BH, sinh năm 1948. Nơi cư trú: Số 137B đường L, phường M, quận N, th nh phố Hải Phòng; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo HDH: Ông O - Luật sư Công ty Luật P và Ông Q

- Luật sư Văn phòng luật sư R – Đều thuộc Đo n Luật sư th nh phố Hải Phòng; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo DVB: Ông S - Luật sư Văn phòng luật sư T - Đo n Luật sư th nh phố Hải Phòng; có mặt.

Người làm chứng: Bà NLC1, ch NLC2, anh NLC3; đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian ông BH v người của Công ty cổ phần đầu tư v x y dựng U (sau đ y viết tắt l Công ty U) đang b Cơ quan điều tra điều tra, xử lý về h nh vi trốn thuế, NLC2 và NLC3 nói với BH biết HDH l chỗ quen biết của NLC3 có nhiều mối quan hệ, có thể lo việc không b xử lý hình sự. BH đã bảo NLC3 chắp mối để BH gặp HDH nhờ giúp miễn trách nhiệm hình sự cho BH v một số người của Công ty U. NLC3 đã trao đổi, thống nhất với HDH về thời gian để BH gặp HDH b n giải quyết việc trên. Khoảng 19 giờ ng y 07/11/2016, BH, NLC2, NLC3, NLC1 đến nhà HDH ở số 23 đường A, phường B quận C. Tại đ y, BH nói với HDH về việc Công ty U có mua một số hóa đơn để đảo nợ, hiện đang b Cơ quan điều tra điều tra về tội trốn thuế, BH nhờ HDH giúp việc miễn trách nhiệm hình sự cho BH và một số người của Công ty U, HDH nói HDH giúp được với điều kiện BH phải chi cho HDH 07 tỷ đồng. BH trình bày hoàn cảnh khó khăn với HDH sau đó HDH bảo BH đưa 05 tỷ đồng để HDH lo miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho BH v một số người của Công ty U. BH đồng ý v ra xe lấy 02 tỷ đồng mang vào nhà HDH bỏ ra b n cho HDH xem v bảo HDH viết giấy biên nhận cho BH. HDH viết giấy biên nhận tiền ghi ng y 07/11/2016 đưa cho BH với nội dung: “Tên tôi là HDH, số CMND: 030918690 địa chỉ số 23 đường A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng có nhận của ông BH - giám đốc công ty cổ phần đầu tư và xây dựng U số tiền 05 tỷ đồng, hiện tại đã nhận 02 tỷ đồng, còn lại là 03 tỷ đồng để giải quyết công việc cho Công ty (theo thỏa thuận). Nếu giải quyết công việc không xong thì tôi sẽ hoàn lại toàn bộ số tiền đã nhận của ông BH (công việc là: miễn truy cứu trách nhiệm hình sự)”. BH cầm giấy biên nhận tiền trên, tin v giao 02 tỷ đồng cho HDH. Khoảng 19 giờ ngày 08/11/2016, BH, NLC1, NLC2, NLC3 đến nh HDH đưa tiếp cho HDH 03 tỷ đồng, HDH nhận tiền viết tiếp v o Giấy biên nhận ng y 07/11/2016 với nội dung: “ngày 08/11/2016 nhận của ông BH 03 tỷ đồng, tổng cộng đã nhận 05 tỷ đồng”.

Sau khi đưa đủ 05 tỷ đồng cho HDH, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Hải Phòng (PC44) vẫn triệu tập v khởi tố BH v một số người của Công ty U về tội Trốn thuế nên BH đã nhiều lần gọi điện đòi tiền HDH nhưng HDH vẫn không trả.

Tại Cơ quan điều tra: Ban đầu HDH chỉ thừa nhận việc nhận 05 tỷ đồng của BH v viết giấy biên nhận như trên là do HDH và DVB thỏa thuận giúp BH xin dự án v đặt cọc dự án x y dựng một số công trình trong đó có dự án x y dựng khách sạn 4 sao tại V do Công ty 22/12 l m chủ đầu tư (DVB l m Phó giám đốc). Do tiền đã chi v o các dự án nên chưa thu hồi được trả BH. HDH, DVB không liên quan đến việc giúp BH v một số người của Công ty U được miễn trách nhiệm hình sự. Sau khi b khởi tố, bắt tạm giam HDH khai nhận phù hợp lời khai của BH, NLC2, NLC3, NLC1. Ngoài ra HDH khai: khi được BH, NLC3 đặt vấn đề lo miễn trách nhiệm hình sự cho BH v một số người của Công ty U, HDH biết bản th n không có khả năng giúp được BH việc trên, HDH đã gặp v b n bạc với DVB về việc BH nhờ. DVB nói giải quyết được với chi phí khoảng từ 05 đến 07 tỷ đồng. Sau khi b n bạc với DVB, HDH gặp BH và nói HDH giúp được với chi phí l 07 tỷ đồng. Do BH trình bày điều kiện khó khăn, không có đủ tiền, nên HDH rút xuống còn 05 tỷ đồng. BH đồng ý v đã giao đủ 05 tỷ đồng cho HDH và HDH đã viết giấy biên nhận như trên. Sau khi nhận được tiền của BH, HDH đã đưa cho DVB 03 tỷ v o ng y 14/11/2016 để DVB lo miễn trách nhiệm hình sự cho BH và một số người trong công ty của BH. Khi đưa cho DVB 03 tỷ đồng, DVB đã tự viết giấy biên nhận đã nhận 03 tỷ đồng để lo cho Công ty U tham gia v o dự án, nhằm tránh việc truy xét của cơ quan chức năng nếu việc b bại lộ, còn 02 tỷ đồng HDH dùng chi vào việc thi công dự án bờ kè ở l ng W th xã X, tỉnh Bắc Ninh theo hợp đồng thi công giữa HDH với Công ty cổ phần đầu tư v tư vấn x y dựng HATB do Y làm giám đốc. Sau n y, thấy HDH không giải quyết được việc gì cho BH nên BH đã nhiều đến đòi tiền. Do HDH đã chi 03 tỷ đồng cho DVB và HDH đã chi 02 tỷ đồng v o công trình đang thi công, chưa thanh toán được nên HDH nhiều lần hứa hẹn v khất lần với BH việc trả nợ.

DVB ban đầu c ng khai về việc cùng HDH nhận tiền của BH để lo dự án cho Công ty U của BH, sau đó DVB thay đổi lời khai v nhận: HDH gặp DVB bàn bạc việc lo miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho BH v một số người của Công ty U, DVB có hỏi một số người qua mối quan hệ xã hội nhưng không tìm được người có thể giải quyết được việc trên. DVB báo lại cho HDH biết l không giúp được. Do HDH, DVB đang cần tiền l m dự án nên HDH b n bạc thống nhất với DVB cứ nhận lời lo giúp việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho BH v người của Công ty U để lấy tiền của BH đầu tư v o các công trình của DVB và HDH. DVB đồng ý. Việc lấy bao nhiêu tiền của BH là do HDH tự quyết đ nh. HDH đưa bao nhiêu tiền thì DVB nhận bấy nhiêu. HDH đã nhiều lần đưa cho DVB với tổng số tiền 2,8 tỷ đồng, trong đó 02 tỷ đồng l tiền lấy được của BH, HDH chia cho DVB, 800.000.000 đồng l tiền HDH đưa cho DVB để HDH góp vốn với DVB tham gia dự án x y dựng khu nghỉ dưỡng ở C. Ngoài ra, trước đó khoảng tháng 8/2016, HDH đưa cho DVB số tiền 200.000.000 đồng để HDH và NLC3 tham gia dự án x y dụng khách sạn 04 sao ở V của Công ty 22-12 (Công ty DVB làm Phó giám đốc). Tháng 4/2017, khi Ban nội chính th nh ủy Hải Phòng gọi hỏi, HDH mới yêu cầu DVB viết giấy biên nhận số tiền HDH đưa l 3 tỷ đồng. HDH yêu cầu DVB viết theo nội dung HDH soạn sẵn ghi ng y 14/11/2016 để tránh việc xử lý của cơ quan chức năng. Sau n y, khi BH gặp HDH nhiều lần để đòi tiền, HDH và DVB đã b n bạc v thống nhất để DVB trực tiếp gặp giải thích cho BH. DVB đã gặp BH nói DVB đã đưa tiền cho Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Ban Nội chính để lo miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho BH v một số người của Công ty U để BH yên t m v kéo d i thời gian trả tiền. Thực tế to n bộ số tiền HDH đưa, DVB đã lấy đầu tư v o các dự án x y dựng trung t m thương mại v khách sạn 4 sao ở V của Công ty cổ phần 22-12 v dự án khu nghỉ dưỡng ở C của Công ty cổ phần tư vấn v x y dựng Ho n V nên không còn tiền để trả BH. Đến trước khi b khởi tố, DVB đã đưa cho HDH 500.000.000 đồng (gồm 3 lần chuyển khoản, 1 lần trực tiếp để trả cho BH). Sau khi HDH b khởi tố, bắt giam, DVB đã trả tiếp cho BH 200.000.000 đồng.

Tiến h nh đối chất giữa HDH, DVB thì DVB vẫn khẳng đ nh, trước khi nhận tiền của BH, DVB đã nói với HDH là DVB không có khả năng lo được việc theo yêu cầu của BH nhưng vì cả hai đang cần tiền nên thống nhất với nhau cứ nhận lời với BH và vay tiền của BH để chi v o các công trình đang thi công của DVB và HDH. Việc HDH lấy bao nhiêu tiền của BH, HDH đưa bao nhiêu tiền cho Bạch trong số tiền đã nhận của BH là do HDH chủ động v quyết đ nh.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-P1 ngày 27 tháng 12 năm 2018, Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Hải Phòng truy tố các b cáo HDH, DVB về tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 ( nay là điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Trong lời luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các b cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu v đề ngh :

Áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 ( nay là điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt:

1. HDH: 20 năm tù.

2. DVB: 20 năm tù

Phạt tiền mỗi b cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung quỹ Nh nước.

- Về d n sự: Buộc các b cáo phải liên đới bồi thường cho ông BH số tiền 2.800.000.000 đồng, trong đó HDH phải bồi thường 1.000.000.000 đồng, DVB phải bồi thường 1.800.000.000 đồng.

- Về vật chứng: Đề ngh HĐXX t ch thu sung quỹ Nh nước 01 điện thoại di động hiệu Philip kèm 02 sim điện thoại của DVB.

Quan điểm của Luật sư Q và Đinh Văn Nhật bào chữa cho bị cáo HDH: Không đồng ý với tội danh v tình tiết đ nh khung hình phạt m Viện kiểm sát truy tố. Bởi lẽ: Việc đưa tiền v nhận tiền giữa b cáo v b hại l ho n to n khách quan. Lúc nhận tiền b cáo HDH không có hành vi gian dối v chưa có ý thức chiếm đoạt t i sản của ông BH. Sau khi cầm tiền của b hại, b cáo mới nảy sinh ý đ nh chiếm đoạt t i sản. Vì vậy, h nh vi của b cáo chỉ phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản. Mặt khác, mức hình phạt m đại diện Viện kiểm sát đề xuất l nặng. Đề ngh Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện, ho n cảnh của b cáo v các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử b cáo mức án thấp dưới mức đề ngh của Viện kiểm sát.

Quan điểm của Luật sư S bào chữa cho bị cáo DVB: Việc đại diện Viện kiểm sát kết luận hai b cáo đồng phạm lừa đảo 5.000.000.000 đồng của ông BH là không đúng. Vì giữa b cáo HDH và ông BH thỏa thuận giao, nhận với nhau số tiền 5.000.000.000 đồng, trong đó có 2.600.000.000 đồng l tiền b cáo HDH sẽ phải nộp thuế cho Công ty của ông BH, chỉ có 2.400.000.000 đồng l dùng v o việc chạy án. Vì vậy, b cáo DVB chỉ đồng phạm về tội Lừa đảo chiếm đoạt t i sản với b cáo HDH l 2.400.000.000 đồng. Số tiền 2.600.000.000 đồng đề ngh Hội đồng xét xử xem xét.

Quan điểm của bị hại: Đồng ý về tội danh v tình tiết đ nh khung hình phạt m Viện kiểm sát truy tố đối với các b cáo. Đề ngh Hội đồng xét xử buộc các b cáo phải liên đới bồi thường cho b hại số tiền các b cáo đã chiếm đoạt. Tại phiên tòa b hại tự nguyện cho mỗi b cáo 500.000.000 đồng v xin giảm nhẹ hình phạt cho các b cáo.

Các b cáo nhất trí với quan điểm b o chữa của Luật sư, không tranh luận với Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng các b cáo nhận thức được h nh vi của mình là vi phạm pháp luật v xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Về tố tụng: Về h nh vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an th nh phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, các b cáo, b hại không có ý kiến hay khiếu nại về h nh vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, b cáo Ho ng Đinh HDH khai nhận b cáo không có chức năng v khả năng lo miễn trách nhiệm hình sự cho ông BH v người của Công ty U nhưng do tin DVB có khả năng lo giúp được nên b cáo và DVB đã b n bạc lấy của ông BH từ 5.000.000.000 đến 7.000.000.000 đồng, b cáo đã thỏa thuận v cầm của ông BH 5.000.000.000 đồng, số tiền n y b cáo đưa cho DVB 3.000.000.000 đồng còn lại 2.000.000.000 đồng b cáo sử dụng v o việc riêng. Tuy nhiên, tại phiên tòa b cáo DVB c ng khẳng đ nh bản th n b cáo không có khả năng lo miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho ông BH v người của Công ty U. Khi HDH nhờ, b cáo không nhận lời giúp m nói để b cáo hỏi các mối quan hệ xã hội nhưng không được. B cáo đã thông báo với HDH l không lo được việc xin miễn trách nhiệm hình sự cho ông BH v người của Công ty U nhưng do cả 02 b cáo đang cần tiền l m dự án nên đã b n bạc với nhau cứ nhận lời lo giúp việc miễn trách nhiệm hình sự để lấy tiền của ông BH đầu tư v o các công trình của DVB và HDH. Việc lấy bao nhiêu tiền của ông BH là do HDH tự quyết đ nh.

Như vậy, căn cứ v o lời khai của các b cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa; căn cứ lời khai của người l m chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận giám đ nh, cùng các t i liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Lợi dụng việc ông BH v người của Công ty U đang b Cơ quan điều tra tiến h nh điều tra về h nh vi trốn thuế, mặc dù không có khả năng để lo miễn trách nhiệm hình sự cho ông BH v người của Công ty U nhưng do cần tiền để chi trả cho các công trình do HDH và DVB đang thi công nên HDH và DVB đã b n bạc v thống nhất việc nhận lời giúp ông BH để chiếm đoạt tiền của ông BH. HDH đã gặp gỡ, trao đổi v hứa hẹn sẽ giúp được ông BH v công khai viết giấy biên nhận tiền nêu rõ công việc giúp ông BH l được miễn trách nhiệm hình sự nên ông BH đã tin tưởng v giao 5.000.000.000 đồng cho HDH. To n bộ số tiền trên HDH và DVB đã chia nhau. Khi biết HDH và DVB không giúp được việc nên ông BH đã nhiều lần đòi nhưng HDH và DVB không trả. Do đó, có đủ căn cứ kết luận các b cáo HDH, DVB phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản” theo Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 như Viện kiểm sát truy tố l có căn cứ, đúng pháp luật.

Luật sư b o chữa cho b cáo HDH cho rằng b cáo không phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt t i sản m chỉ phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản. Như đã ph n tích ở trên, ngay từ đầu các b cáo biết rõ mình không có chức năng và khả năng lo được việc Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho ông BH v người của Công ty U nhưng vẫn b n bạc để lấy tiền của ông BH. B cáo HDH trực tiếp thỏa thuận v viết giấy biên nhận ghi rõ công việc l xin miễn trách nhiệm hình sự cho ông BH v người của Công ty U, làm cho ông BH tin v giao tiền cho b cáo. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận lời b o chữa của luật sư b o chữa cho b cáo HDH.

Luật sư b o chữa cho b cáo DVB cho rằng b cáo DVB chỉ đồng phạm chiếm đoạt số tiền 2.400.000.000 đồng. Đối với số tiền 2.600.000.000 đồng l tiền b cáo HDH cầm để nộp thuế cho Công ty của ông BH nên không tính v o tổng số tiền các b cáo chiếm đoạt. Quan điểm n y không được Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ: Ngay từ đầu các b cáo có h nh vi gian dối để chiếm đoạt to n bộ số tiền 5.000.000.000 đồng của b hại v thực tế số tiền đó sau khi lấy được các b cáo đã chia nhau để sử dụng v o mục đích cá nh n m không có việc nộp thuế hay lo miễn trách nhiệm hình sự cho ông BH v người của Công ty U.

Về tình tiết đ nh khung hình phạt: Các b cáo HDH và DVB có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt của ông BH số tiền 5.000.000.000 đồng nên các b cáo b xét xử theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về số tiền các b cáo chiếm đoạt: B cáo HDH khai, sau khi nhận số tiền 5.000.000.000 đồng của ông BH, b cáo đã chia cho DVB 3.000.000.000 đồng, b cáo được hưởng 2.000.000.000 đồng. Tại phiên tòa b cáo DVB khai trong số 3.000.000.000 đồng b cáo nhận của HDH, chỉ có 500.000.000 đồng l tiền b cáo được chia trong số tiền các b cáo b n bạc chiếm đoạt của ông BH, 2.5000.000.000 đồng còn lại l tiền HDH góp vốn l m ăn với b cáo. Tuy nhiên, căn cứ v o lời khai của b cáo HDH, căn cứ v o Giấy biên nhận do chính b cáo DVB viết ng y 14/11/2016, có đủ căn cứ xác đ nh, sau khi nhận 5.000.000.000 đồng của ông BH, b cáo HDH đã chia cho b cáo DVB 3.000.000.000 đồng.

Tính chất vụ án l đặc biệt nghiêm trọng, h nh vi phạm tội của các b cáo không những đã x m phạm đến quyền sở hữu t i sản của b hại m còn g y ảnh hưởng xấu đến trật tự an to n xã hội ở đ a phương, g y bức xúc trong quần chúng nhân dân nên cần phải xét xử nghiêm.

Về vai trò: Trong vụ án n y HDH l người đề xuất với DVB để lo giúp BH v người của Công ty U được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Cả hai b cáo đều biết rõ việc n y không thể thực hiện được nhưng vẫn cùng nhau b n bạc, thống nhất để thực hiện h nh vi chiếm đoạt t i sản của ông BH. HDH trực tiếp l m việc, thỏa thuận với ông BH, viết giấy biên nhận tiền v nhận số tiền 5.000.000.000 đồng từ ông BH. Số tiền trên HDH, DVB đã chia nhau, trong đó HDH được 2.000.000.000 đồng, DVB được 3.000.000.000 đồng. Mặc dù DVB l người tiếp nhận ý chí từ HDH nhưng số tiền chiếm đoạt DVB hưởng cao hơn, vì vậy, đánh giá vai trò của hai b cáo l ngang nhau.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa mặc dù các b cáo còn né tránh một phần h nh vi phạm tội của mình nhưng c ng đã thừa nhận việc có b n bạc chiếm đoạt tiền của b hại v việc Viện kiểm sát truy tố các b cáo l đúng. Vì vậy, Hội đồng xét xử đánh giá các b cáo th nh khẩn khai báo. Sau khi phạm tội các b cáo đã tự nguyện trả lại cho người b hại được 1.200.000.000 đồng (trong đó b cáo HDH trả 500.000.000 đồng, DVB trả 700.000.000 đồng). Tại phiên tòa b hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các b cáo. Đ y là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Như đánh giá ở đoạn [11], các b cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng xét về nhân thân b cáo HDH có 02 tiền án, mặc dù đã xóa án tích nhưng vẫn b coi l người có nh n th n không tốt. B cáo DVB trong quá trình điều tra đã đi khỏi đ a phương, g y khó khăn cho công tác điều tra. Số tiền các b cáo chiếm đoạt của b hại đến nay mới khắc phục được một phần. Vì vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục các b cáo v phòng ngừa chung.

Ngo i hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền đối với các b cáo để sung quỹ Nh nước.

- Về trách nhiệm dân sự:

B hại l ông BH yêu cầu các b cáo bồi thường số tiền 5.000.000.000 đồng l có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét thấy: Tại giai đoạn điều tra các b cáo đã tự nguyện trả cho b hại số tiền 1.200.000.000 đồng, trong đó b cáo HDH trả được 500.000.000 đồng, b cáo DVB trả được 700.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông BH tự nguyện cho mỗi b cáo 500.000.000 đồng. Ông BH yêu cầu các b cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 2.800.000.000 đồng. Xét, số tiền n y các b cáo cùng thống nhất ý chí để lấy của ông BH nên các b cáo phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông BH 2.800.000.000 đồng, trong đó HDH phải bồi thường 1.000.000.000 đồng, DVB phải bồi thường 1.800.000.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Philip kèm 02 sim số 0981206786 v 0888721962 của DVB. Tại phiên tòa b cáo DVB khai đã sử dụng chiếc điện thoại n y để liên lạc với b cáo HDH và ông BH về việc lo miễn truy cứu trách nhiệm hình sự nên cần t ch thu sung quỹ Nh nước.

Về án phí: Các b cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm v án phí d n sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các b cáo v b hại được quyền kháng cáo bản án theo quy đ nh của pháp luật.

Đối với h nh vi của ông BH và NLC1, NLC3, NLC2 do lo sợ b xử lý về tội trốn thuế đã cùng nhau đến nh HDH để BH đưa 5.000.000.000 đồng nhờ HDH lo giúp việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho BH v một số người của Công ty U nhưng sau đó đã chủ động tố cáo h nh vi phạm tội của HDH, DVB trước khi b phát hiện nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự l có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với HDH và DVB, xử phạt:

HDH: 20 (hai mươi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”. Thời hạn tù tính từ ng y 29/12/2017.

DVB: 20 (hai mươi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”. Thời hạn tù tính từ ng y 08/11/2018.

Phạt tiền mỗi b cáo 20.000.000đ (hai mươi triệu) đồng để sung quỹ Nh nước

2. Về trách nhiệm d n sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, các Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật D n sự 2015: Buộc các b cáo HDH và DVB phải liên đới bồi thường cho ông BH số tiền 2.800.000.000đ (hai tỷ tám trăm triệu) đồng, trong đó: B cáo HDH phải bồi thường 1.000.000.000đ (một tỷ)đồng, b cáo DVB phải bồi thường 1.800.000.000đ (một tỷ tám trăm triệu) đồng.

Kể từ ng y có đơn yêu cầu thi h nh án của người được thi h nh án cho đến khi thi h nh án xong khoản tiền bồi thường, h ng tháng bên phải thi h nh án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi h nh theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật D n sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi h nh án.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử: T ch thu sung quỹ Nh nước 01 điện thoại di động hiệu Philip, IMEI 1: 868922021488966 TMET2- 86892202158961 kèm 02 sim số 0981206786 v 0888721962.

(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ng y 21 tháng 12 năm 2018 tại Cục Thi h nh án d n sự th nh phố Hải Phòng)

4. Về án phí: Mỗi b cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. B cáo HDH phải nộp 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu) đồng, b cáo DVB phải nộp v 66.000.000đ (Sáu mươi sáu triệu) đồng án phí d n sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các b cáo v b hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nh n d n cấp cao tại H Nội trong hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi h nh theo Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi h nh án d n sự, người phải thi h nh án d n sự có quyền thoả thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc b cưỡng chế thi h nh án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 v 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự./.

Cỡ chữ