vanban.org

Bản án 48/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Tuyên án 15/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội "VPQĐVĐKPTGTĐB" - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/HS-ST
Ngày 15-11-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Gấm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Thường.

Ông Trần Văn Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Trụ sở Chi cục Thuế khu vực Ý Yên - V; địa chỉ: Số 133 Lương Thế Vinh, thị trấn Gôi, huyện V, tỉnh Nam Định; Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2019/TLST

- HS ngày 30 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2019/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; sinh năm 1975 tại Nam Định.

Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú tại: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lái xe hạng B2; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L (đã chết); con bà: Đinh Thị L (tên gọi khác là L) (đã chết); vợ là Trịnh Thị X, sinh năm 1980, có 03 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29-8-2019 đến nay; “Có mặt”.

- Bị hại: Anh Lê Văn B, sinh năm 2000 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị D, sinh năm 1971; trú tại: Thôn Quánh, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định; “Vắng mặt”.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

+ Anh Trịnh Văn S, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định; “Vắng mặt”.

+ Lê Đình C, sinh năm 1981; địa chỉ: T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định; “Vắng mặt”.

+ Chị Lê Thị P, sinh năm 1987; địa chỉ: T, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định;

“Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 06-7-2019, anh Nguyễn Văn H không có giấy phép lái xe ô tô hạng D đã điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit 16 chỗ ngồi, BKS 18B-01426, chở theo người thân đi từ thành phố Nam Định về nhà theo hướng Nam Định – Ninh Bình. Khi đi đến Km 113+900 Quốc lộ 10 thuộc địa phận xã T, huyện V, tỉnh Nam Định, lúc này trời chưa sáng rõ, thời tiết không mưa, mặt đường khô, các phương tiện tham gia giao thông vẫn còn bật đèn. Đoạn đường này được trải nhựa áp phan phẳng, rộng 11m, giữa đường có vạch sơn màu vàng liền nét (vạch tim đường) chia mặt đường thành hai chiều đường riêng biệt là chiều Nam Định - Ninh Bình và chiều ngược lại. Đoạn đường này thẳng, tầm nhìn thoáng và không nằm trong hiệu lực biển báo nào. Chiều đường Nam Định - Ninh Bình lề phải là cống thoát nước bằng bê tông rộng 0,7m ngoài lề phải là khu dân cư; lề trái hướng Nam Định - Ninh Bình rộng 0,5m, ngoài lề là hàng rào chắn đường bộ với tuyến đường sắt Bắc – Nam. Lúc này ở phía trước cùng chiều đi với anh H khoảng cách 25m có một chiếc xe ô tô đầu kéo kéo rơ mooc đang di chuyển. Do muốn vượt chiếc xe ô tô đầu kéo này nên khi đầu xe ô tô do anh H điều khiển còn cách đuôi xe đầu kéo rơ mooc khoảng 5-6m thì anh H đánh lái sang trái, bánh xe trước và sau bên lái xe ô tô lấn sang làn đường ngược chiều vượt qua vạch sơn vàng tim đường khoảng 30cm để vượt xe đầu kéo đi phía trước. Cùng lúc này bên làn đường ngược chiều hướng Ninh Bình - Nam Định, cách khoảng 100m có xe mô tô BKS 35B1-187.81 do anh Lê Văn B điều khiển đi đúng làn đường bên phải hướng Ninh Bình - Nam Định, đang đi ở khoảng giữa làn đường của mình. H nhìn thấy có xe di chuyển ở hướng ngược chiều nhưng vẫn tiếp tục điều khiển ô tô BKS 18B-01426 đánh lái sang bên trái bánh xe trước và sau bên lái xe ô tô tiếp tục lấn sang làn đường ngược chiều và lấn qua vạch sơn vàng tim đường khoảng 1,3m và tăng tốc độ xe ô tô lên khoảng 60-70 km/h để vượt bên trái xe ô tô đầu kéo kéo rơ mooc. Do vượt xe không đảm bảo an toàn nên khi xe ô tô do H điều khiển vừa vượt được khoảng 1/3 sau xe ô tô đầu kéo kéo rơ mooc thì xô vào bánh trước và phần đầu xe mô tô BKS 35B1-187.81 do anh Lê Văn B điều khiển chạy hướng ngược chiều; anh Lê Văn B bị đập đầu vào góc dưới cùng kính chắn gió phía trước bên lái của xe ô tô, sau đó cả người và xe mô tô đổ rê trượt trên mặt đường theo hướng Nam Định - Ninh Bình chếch từ tim đường vào lề trái (hướng Nam Định- Ninh Bình); xe ô tô BKS 18B-01426 do anh H điều khiển tiếp tục di chuyển thêm một đoạn rồi dừng lại ở giữa đường. Hậu quả vụ tai nạn: anh Lê Văn B tử vong tại chỗ; hai phương tiện bị hư hỏng.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen vàng BKS 35B1-187.81; 01 xe ô tô 16 chỗ ngồi nhãn hiệu Ford Transit, màu sơn trắng, BKS 18B-01426; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, tên chủ xe: Đào Văn Đ, địa chỉ: Y - Y - Nam Định; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 Giấy mua bán xe ô tô viết tay giữa Đào Văn Đ và Nguyễn Văn H; 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 của Nguyễn Văn H; ngoài ra Cơ quan CSĐT Công an huyện V còn thu giữ các mẫu vật là: chất màu trắng bám dính tại đầu mút tay nắm điều khiển bên trái xe mô tô, mẫu sơn ma tít màu trắng trước đầu xe bên lái của xe mô tô được niêm phong gửi đi giám định.

Ngày 10-7-2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định có bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 698/GĐKTHS kết luận nạn nhân Lê Văn B chết do sốc đa chấn thương, cơ chế: Do va đập, trà sát.

Tại Bản kết luận giám định số 728/GĐKTHS ngày 15-8-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Chất màu trắng bám dính trên đầu mút tay nắm người điều khiển bên cần số xe mô tô BKS 35B1-187.81 là sơn cùng loại với mẫu sơn matít màu trắng thu tại khu vực trước đầu xe bên lái xe ô tô BKS 18B-01426.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 13/KL-HĐ ngày 27-8-2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận: xe ô tô BKS 18B-01426 thiệt hại 3.816.000 đồng; xe mô tô BKS 35B1-187.81 thiệt hại 1.235.000 đồng. Tổng giá trị phần thiệt hại, hư hỏng của 02 xe là 5.051.000 đồng.

Cáo trạng số 45/CT-VKSVB ngày 28-10-2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 140.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền và không có yêu cầu gì thêm, vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như nội dung nêu trên và xin được giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn hình phạt bổ sung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách đến 5 năm. Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị:

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (một) chiếc xe ô tô 16 chỗ ngồi nhãn hiệu Ford Transit, màu sơn trắng, BKS 18B-01426; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, tên chủ xe: Đào Văn Đ, địa chỉ: Y - Y - Nam Định; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 (một) Giấy mua bán xe ô tô viết tay giữa Đào Văn Đ và Nguyễn Văn H; 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 của Nguyễn Văn H;

+ Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) túi đựng mẫu vật hoàn trả giám định vụ TNGT xảy ra ngày 06-7-2019 tại Km 113+900 QL10 thuộc địa phận xã T, huyện V, tỉnh Nam Định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định số 728/GĐKTHS (có dấu niêm phong và chữ ký các bên tham gia).

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của bị cáo; biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; biên bản khám nghiệm tử thi; bản kết luận giám định pháp y về tử thi; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của người làm chứng; vật chứng đã thu giữ... Nên đã có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 05 giờ 00 phút, ngày 06-7-2019, tại Km 113+900 Quốc lộ 10 thuộc địa phận xã T, huyện V, tỉnh Nam Định, Nguyễn Văn H không có giấy phép lái xe ô tô hạng D đã điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit 16 chỗ ngồi, BKS 18B-01426, vượt xe phía trước không đúng quy định, không đảm bảo an toàn. Lúc này có xe mô tô BKS 35B1-187.81 của anh Lê Văn B chạy ngược chiều phía trước đang đến sát gần đoạn đường H định vượt thì H điều khiển xe ô tô lấn sang làn đường ngược chiều trong đoạn đường có giải phân cách đường là vạch đơn màu vàng liền nét nên đã gây tai nạn giao thông làm anh Lê Văn B chết tại chỗ, 02 phương tiện giao thông bị hư hỏng.

Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo và hậu quả xảy ra với những quy định của pháp luật hiện hành thì thấy hành vi đó của bị cáo đã vi phạm những quy định tại khoản 9 Điều 8, điểm a khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và Điều 54, điểm b tiểu mục 1.1 mục G1 Phụ lục G Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ ban hành kèm theo Thông tư số 06/2016/TT-BGTVT ngày 08-04-2016 của Bộ giao thông vận tải về ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ. Vì vậy, hành vi của bị cáo H đã đủ các yếu tố cầu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của người tham gia giao thông đường bộ, gây tư tưởng hoang mang, lo lắng cho những người tham gia giao thông; ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn giao thông tại địa phương do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về đường lối xử lý hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, có sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Ngày 17-7-2019 Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 140.000.000 đồng, bao gồm: chi phí mai táng, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần và chi phí sửa chữa chiếc xe mô tô BKS 35B1-187.81; bà Lê Thị D là mẹ của bị hại và chị Lê Thị P là chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS 35B1-187.81 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết và cũng không xác định chị Lê Thị P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (một) chiếc xe ô tô 16 chỗ ngồi nhãn hiệu Ford Transit, màu sơn trắng, BKS 18B-01426; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, tên chủ xe: Đào Văn Đ, địa chỉ: Y - Y - Nam Định; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 (một) Giấy mua bán xe ô tô viết tay giữa Đào Văn Đ và Nguyễn Văn H; 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 cho Nguyễn Văn H;

+ Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) túi đựng mẫu vật hoàn trả giám định vụ TNGT xảy ra ngày 06-7-2019 tại Km 113+900 QL10 thuộc địa phận xã T, huyện V, tỉnh Nam Định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định số 728/GĐKTHS (có dấu niêm phong và chữ ký các bên tham gia).

Đối với anh Lê Văn B điều khiển xe mô tô BKS 35B1-187.81 tham gia giao thông ngày 06-7-2019 đi đúng làn đường chiều đường của mình, nhưng không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, tuy nhiên vi phạm này của anh B không phải là nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông trên. Anh B đã tử vong trong vụ tai nạn giao thông nên không xử lý hành vi điều khiển phương tiên giao thông khi không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn H.

4. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (một) chiếc xe ô tô 16 chỗ ngồi nhãn hiệu Ford Transit, xa đã qua sử dụng, BKS 18B-01426; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, tên chủ xe: Đào Văn Đ, địa chỉ: Y - Y - Nam Định; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 (một) Giấy mua bán xe ô tô BKS 18B-01426 viết tay giữa Đào Văn Đ và Nguyễn Văn H; 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 của Nguyễn Văn H;

+ Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) túi đựng mẫu vật hoàn trả giám định vụ TNGT xảy ra ngày 06-7-2019 tại Km 113+900 QL10 thuộc địa phận xã T, huyện V, tỉnh Nam Định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định số 728/GĐKTHS (có dấu niêm phong và chữ ký các bên tham gia).

(Như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31-10-2019 giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện V).

6. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

7. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ