- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Vi văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c, khoản 1 điều 249; điều 38;điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2019/HS-ST Ngày19 - 11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thành
2. Ông Lương Văn Cường
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hằng,Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Phú- Kiểm sát viên.
Ngày19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sởTòa án nhân dân huyện Mường Lát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2019/TLST-HS ngày 22tháng 10 năm 2019; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số48/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn L - Sinh năm 1990.
Nơi sinh: Xã Pù Nhi, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản Na Tao, xã Pù Nhi, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông:Vi Văn I, sinh năm 1952; Con bà: Lương Thị H, sinh năm 1952;
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01 (Một). Ngày 28/8/2015bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, xử phạt 09 (Chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.Bị cáo chưa thi hành xong phần án phí HSST và phần bồi thường thường dân sự.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày20/7/2019 chuyển tạm giam ngày 25/7/2019 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo:ÔngNguyễn Ngọc K, Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 1, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08h, ngày 19/7/2019, Vi Văn L đang đi bộ trên đường tại Trung tâm xã Pù Nhi, huyện Mường Lát, thì Lừng gặp Lê Hoàng P, sinh năm 1988 ở khu 2, thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát đang điều khiển xe máy đi trên đường. Khi nhìn thấy L thì P dùng lại rủ L đi sang bản Khằm Nàng (Lào) để mua ma túy sử dụng thì được L đồng ý và đi cùng P. Tại bản Khằm Nàng (Lào), P và L vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi để uống nước, uống nước xong P và L đi tiếp đến bản Na Hàm (Lào) rồi đi vào nhà một người đàn ông dân tộc Thái cũng không rõ tên, tuổi để sử dụng ma túy. Tại đây, người đàn ông này đã lấy ra 09 viên hồng phiến (ma túy tổng hợp) để cả 03 người cùng sử dụng. Sử dụng ma túy xong, L đưa cho P số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) để nhờ P mua giúp ma túy, P đồng ý và đi mua giúp ma túy cho L. Khoảng 01 giờ sau, P quay lại và đưa 01 cục hêrôin cho L, nhận được hêrôin thì L chia số hêrôin này thành 04 phần, L sử dụng hết 03 phần, số ma túy còn lại L gói lại bằng túi nilon màu hồng rồi bỏ vào túi quần bên phải đang mặc. Đến 23h cùng ngày, L nhờ P điều khiển xe máy chở L ra bản Khằm Nàng (Lào) để L đi bộ về Việt Nam, sau đó P đi đâu L không biết. Khi L về đến nhà máy sắn, thuộc địa phận bản Cặt, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát thì L vào nhà máy sắn ngủ lại ở đó. Khoảng 08h ngày 20/7/2019, L tỉnh dậy và đi bộ về nhà, khi L đi đến khu vực Nhà văn hóa bản Cặt, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát thì Lừng bị Tổ công tác tuần tra Công an huyện Mường Lát kiểm tra và phát hiện L đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi quần bên phải đang mặc, Công an huyện Mường Lát tuyên bố bắt người phạm tội quả tang đối với Vi Văn L.
Tại Bản kết luận giám định số:1767/PC09 ngày 24/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
Các cục vụn màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,166g (Không phẩy một sáu sáugam) loại:Herôin.
Tại Cáo trạng số 48/CT-VKS-ML ngày21/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tốbị cáo Vi Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm ckhoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tranh luậnvà luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; Ngoài ra,Bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tốBị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên, Bị cáo Vi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Đề nghị áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h (Tái phạm) khoản 1 điều 52; Điểm c khoản 1 điều 249của Bộ luật Hình sựđối với bị cáo.
- Đề nghị hình phạtđối với bị cáoVi Văn L từ 20 đến 22 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối vớibị cáo, vì bị cáo làm nghề trồng trọt, không có thu nhập ổn định, làngười nghiện chất ma túy và thuộc diện hộ nghèo năm 2019.
- Vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo, còn lại sau giám định tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và thuộc diện hộ nghèo.
Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố,bị cáo không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình và khai nhận biết rõ hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng do bản thânbị cáo là người nghiện chất ma túy (đã nghiện ma túy 03 năm),không kìm chế được,nên đã đi mua ma túy đem về để sử dụng, ngoài ra bị cáo không có mục đích nào khác; bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng,bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Người bào chữa chobị cáo vắng mặt và đã có bản luận cứ bào chữa: Đồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Cho Nhưng cho rằng, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, Bị cáo lại là người dân tộc thiểu số, từ nhỏ đã sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không được đi học nên không biết chữ dẫn đến hạn chế về nhận thức pháp luật. Nên đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng một mức án thấp nhất có thể,để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình, xã hội và trở thành công dân có ích và vẫn có tính phòng ngừa chung; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền,vìbị cáo làm nghề trồng trọt, không có thu nhập ổn định, đồng thời bị cáo cũng là nạn nhân của tên nạn ma túy và là thành viên của hộ nghèo.
Tại phiên tòa Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS, đồng tình với luận cứ bào chữa của người bào chữachobị cáo.
Lời nói sau cùng:Bị cáo rất ân hận về việc làm của mình, vì là người nghiện chất ma túy nên không làm chủ được bản thân. Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một mức án thấp nhất có thể, để bị cáo sớm được về với gia đình, xã hội và sẽ trở thành người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quátrình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố,Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hìnhsự quy định. Người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đánh giá chứng cứ; yêu cầu; đề nghị của Kiểm sát viên;hành vi củabị cáo: Tại phiên toàbị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các lời khai của bị cáo tạibiên bảnbắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định; Biênbản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được Hội đồng xét xử thẩm tra công khai tại phiêntoà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 19/7/2019 bị cáo đã đi cùng Lê Hoàng P sang Lào để mua ma túy sử dụng, bị cáo đã mua ma túy hết 50.000đồng, sau đó chia thành 04 phần, sử dụng hết 03 phần, số ma túy còn lại, bị cáo đã cất giấu vào túi quần. Đến đêm muộn, bi cáo đã nhờ P chở ra bản Khằm Nàng (Lào) để đi về Việt Nam. Bị cáo đi bộ đến nhà máy ngô thuộc bản Cặt, xã Nhi Sơn thì ngủ qua đêm tại đây. Sáng ngày 20/7/2019 khi bị cáo đang trên đường về nhà thì bị Tổ Công tác Công an huyện Mường Lát bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, số ma túy thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,166gam, loại hêrôin.
Như vậy, hành vi của bị cáo lànguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sáchquản lý độc quyền của Nhà nước đối vớicácchất ma túy, làm ảnh hưởng làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, đặc biệt là khu vực biên giới. Bị cáo nhận thức được hànhvi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưngbị cáo vẫn cố ý thực hiện (bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp).Sau khi xem xét về hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, chất ma túy, khối lượng ma túy, được quy định tại điểm c khoản1 điều 249 Bộ luật hình sự.Hội đồng xét xử kết luận: Quan điểm truy tố của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo Vi Văn Lừng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Sau khi phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo đã“thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành viphạm tội của mình,nên HĐXX chobị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểms khoản 1 điều 51 BLHS; Bị cáo đã bị xét xử về tội “Trộm ắp tài sản” sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, nhưng Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, khôngtu dưỡng, rèn luyện,ham chơi, đua đòi, dẫn đến nghiện chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân và bị bắt quả tang. Bị cáo chưa thi hành xong phần án phí HSST và trách nhiệm bồi thường dân sự tại bản án số 35/2015/HSST ngày 28/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm h (tái phạm) khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, để phù hợp với tínhchất nguy hiểm của hành vi phạm tộicủabị cáo,cầnphảixét xử nghiêm minh, áp dụng hìnhphạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.
Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;Hội đồng xét xử quyết định dụng hình phạt tù có thời hạn đối vớibị cáo để răn đe, phòng ngừa.Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt chobị cáo là phù hợp, HĐXX chấp nhận.
Ngoài hình phạt chínhbị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS.Nhưng theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thì cho thấybị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập không ổn định, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, bị cáo là người dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:Chất ma túy thu giữ của bị cáocòn lại sau giám địnhlà vật chứng của vụ án,là chất Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu tiêu hủy.
Về án phí, quyền kháng cáo và kháng nghị:Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
Các nhận định khác:
Đối với Lê Hoàng P, người mà L khai là đi mua giúp ma túy cho L, nhưng Lê Hoàng P đã không thừa nhận việc rủ và mua giúp ma túy cho L, ngoài lời khai của L ra thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh lời khai của L là đúng. Vì vậy, chưa đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Lê Hoàng P trong vụ án này.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm c, khoản 1 điều 249; điều 38;điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáoVi Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Hình phạt:
Xử phạtbị cáoVi Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ (20/7/2019).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối vớibị cáo.
Vật chứng:Căn cứđiều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Phạm Anh Tuấn và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đóng giáp lai. Phong bì niêm phong còn nguyên vẹn.
Vật chứng kể trên hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2019 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục THADS huyện Mường Lát.
Án phí:Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;điểm đ, khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Tuyên: Miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quyền kháng cáo và Kháng nghị: Áp dụng: Điều 331, điều 333, điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử công khai; Có mặt bị cáo; Vắng mặt Người bào chữa cho bị cáo; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Viện kiểm sát kháng nghị theo quy định.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT- Công an H. Mường Lát; - Chi cục THADS huyện Mường Lát; - UBND xã Pù Nhi, H. Mường Lát; - Bị cáo; - Người bào chữa cho các bị cáo; - Hồ sơ Thi hành án Hình sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Dũng |