- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2019/HS-ST Ngày 01/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quàng Văn Hòa.
2. Ông Tòng Văn Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sóng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái, Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 10 năm 2019, tại phòng xét xử Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử vụ án hình sự sơ thẩm công khai thụ lý số: 46/2019/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1988 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12 PT; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T, sinh năm 1964 và bà Lò Thị T, sinh năm 1966; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 9/6/2019 đến 15/6/2019; tạm giam từ ngày 15/6/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 08 tháng 6 năm 2019, Lò Văn T đi bộ từ nhà ở bản C, xã L, huyện Đ lên bản P, xã P, huyện Đ mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 50.000đ. Mua được Heroine Lò Văn T cho Heroine vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà, mục đích là sử dụng cho bản thân. Đến 22 giờ cùng ngày T lên cơn nghiện nên đã ra khe suối cuối bản C, xã L để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an đồn M phối hợp với Công an xã L phát hiện bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 08 giờ 05 phút ngày 09/6/2019 xác định vật chứng thu giữ của Lò Văn T nghi Heroine có khối lượng là: 0,18 gam. Trích 0,09 gam gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 578/GĐ-PC09 ngày 12/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục dạng nén thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine, nằm trong danh mục các chất ma túy, STT 9, mục IA, Danh mục I của Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số: 47/CT-VKS-ĐBĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn T cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Xét về hành vi của bị cáo Lò Văn T thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Cụ thể: Khoảng 11 giờ ngày 08/6/2019 bị cáo lên bản P, xã P, huyện Đ mua được 01 gói Heroine với giá 50.000đ của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ cụ thể), khi chuẩn bị sử dụng thì bị bắt quả tang. Gói Heroine được xác định có khối lượng là 0,18 gam, mục đích mua Heroine về sử dụng cho bản thân.
Như vậy, Lời khai nhận tội của của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, làm mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; phạm tội với lỗi cố ý. Cho nên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”
“c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố đối với bị cáo Lò Văn T là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo tuy chỉ mang tính chất giản đơn do nghiện ma túy nên tìm mua về sử dụng, nhưng hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bản thân bị cáo tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng lại dấn thân vào con đường nghiện chất ma túy để đến ngày 08/6/2019 bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục đồng thời để cai nghiện cho bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghịệp bị cáo làm ruộng, là đối tượng nghiện chất ma túy, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
Về vật chứng vụ án: Gồm 0,18 gam Heroine, giám định hết 0,09 gam, còn lại 0,09 gam là chất thuộc Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông, Lò Văn T khai là người bán Heroine cho bị cáo. Quá trình điều tra, chưa làm rõ được, nên chưa đề cập xử lý trong vụ án này. Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử hôm nay bị cáo không khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, đang cư trú tại xã Luân Giói, huyện Điện Biên Đông là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T (tên gọi khác: Không) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 09/6/2019).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy 0,09 gam Heroine. Vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 05/9/2019 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/10/2019).
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - VKSND huyện Điện Biên Đông; - Công an huyện Điện Biên Đông; - THADS huyện Điện Biên Đông; - Phòng NVHS CA Điện Biên Đông; - Phòng KTNV&THA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ THA. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Nga |