vanban.org

Bản án 48/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 15/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trầ n Hoà ng Th (Th Gà) phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trầ n Hoà ng Th (Th Gà) 01 (Một) năm tù. Tổng hợp đối với Bản án số: 30/2019/HSST ngày 12/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Quyết định hì nh phạ t chung bị cá o Trầ n Hoà ng Th (Th Gà) phải chấp hành là 01 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng Th - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trầ n Hoà ng Th (Th Gà) phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 584 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/HS-ST
Ngày: 15 - 11 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lữ Phúc Lệ

Ông Nguyễn Trung Đông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc San – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thanh Mãy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Cá i Nướ c, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2019/TLSTHS ngày 15 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trầ n Hoà ng Th (tên gọi khác Th Gà), sinh năm 1996 tại huyệ n Cái Nước , tỉnh Cà Mau ; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp Năm Đảm, xã Lương Thế Trân, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trầ n Văn Nhứ t, sinh 1962 và bà Trương Tuyế t Nhung , sinh năm 1965; có 03 anh chị em ruột; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiề n sự : Không. Bắt bị cá o tạm giam từ ngày 13/8/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Nguyễ n Văn C, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Sở Tạ i, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 05/6/2019 Th đến nhà của anh Nguyễn Văn C chơi, sau đó hỏi mượn chiếc xe môtô biển kiểm soát 69E1-233.74 của anh C để đi lấy tiền của một người tên Danh, anh C đồng ý và giao xe cho Th.

Sau khi đi lấy tiền xong, Th không mang xe về trả cho anh C mà nảy sinh ý định mang xe của anh C để đi thế chấp lấy tiền tiêu xài cá nhân. Th nhờ Phương tìm chỗ cầm xe, Phương đồng ý dẫn Th đến khu nhà trọ Lê Khanh thuộc phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau cầm chiếc xe của anh C cho anh Huỳnh Văn Tèo được 6.000.000 đồng, Th cho Phương 500.000 đồng tiền công dẫn mối cầm xe, đưa cho Tèo 900.000 đồng tiền lãi trả trước 01 tháng, số tiền còn lại Th dùng vào việc tiêu xài cá nhân.

Anh C đã nhiều lần điện thoại yêu cầu Th mang xe về trả nhưng Th nói dối là đi công việc rồi sau đó tắt máy điện thoại không liên lạc được nữa. Đến ngày 06/6/2019 anh C đến Công an xã Thạnh Phú trình báo sự việc. Qua làm việc Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu hồi được chiếc xe môtô hiệu Honda AirBlade, biển số 69F1-233.74 tại phòng trọ của Tèo.

Tại kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 03/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện C xác định:

01 xe môtô, nhãn hiệu Honda AirBlade màu sơn trắng đỏ đen dung tích xi lanh 108CC; Số máy IF18E5330307; số khung 18038Y724145, biển kiểm soát 69E1-233.74 còn 55% giá trị sử dụng, giá trị thực tế 24.200.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Cá i Nướ c truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Cái Nước giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù. Đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bị cáo tại bản án số: 30/2019/HSST ngày 12/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh C số tiền là 2.500.000 đồng.

Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật và biết ăn năn hối cải, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh C số tiền 2.500.000 đồng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Cá i Nướ c , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không khiếu nại gì. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 16 giờ, ngày 05/6/2019 bị cá o đến nhà của anh Nguyễn Văn C chơi và hỏi mượn xe môtô biển số kiểm soát 69E1-233.74 của anh C để đi lấy tiền của một người tên Danh. Sau khi đi lấy tiền xong Th không trả xe cho anh C mà nhờ người bạn tên Trần Duy Phương dẫn đến cầm cho Huỳnh Văn Tèo được số tiền 6.000.000 đồng. Số tiền cầm xe Th cho Ph 500.000 đồng, còn lại Th tiêu xài cá nhân. Giá trị tài sản mà Th chiếm đoạt là 24.200.000 đồng.

Như vậy, bị cáo Trầ n Hoà ng Thạ ch đã lợi dụng sự tin tưởng của anh Nguyễ n Văn C giao xe môtô biển số kiểm soát 69E1-233.74 của anh C sau đó đem cầm cố lấy tiền tiêu xài. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 24.200.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo Th đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bản cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát huyệ n Cá i Nướ c truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do bị cáo Th thực hiện là nghiêm trọng, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo C phải được xử lý nghiêm, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự .

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; gia đình bị cáo có công với cách mạng, ông ngoại là thương binh 4/4. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Ngày 12/8/2019 Tòa án nhân dân huyện C xét xử tại bản án số: 30/2019/HSST xử phạt 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa chấp hành án.

Trách nhiệm dân sự: Tài sản sau khi thu hồi đã trả lại cho anh Nguyễn Văn C, hiện anh C yêu cầu bị cá o Thạ ch bồi thường số tiền chuộc lại xe 2.500.000 đồng. Xét yêu cầu của anh C là có căn cứ, buộc bị cáo phải trả anh C khoản tiền trên là phù hợp.

Đối với Trần Duy Ph khi gặp Th và dẫn Th đến chổ cầm xe thì không biết chiếc xe là do Th chiếm đoạt của C mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Phương là phù hợp.

Đối với Huỳnh Văn T sau khi anh C chuộc xe thì không liên lạc được, hiện tại không biết Tèo đang cư trú ở đâu nên không làm việc được nên Cơ quan điều tra tiếp tục tìm Tèo làm việc nếu có căn cứ xử lý sau là phù hợp.

Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu số tiền là 200.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bị cáo phải chịu số tiền là 300.000 đồ ng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điề u 56 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trầ n Hoà ng Th (Th Gà) phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trầ n Hoà ng Th (Th Gà) 01 (Một) năm tù. Tổng hợp đối với Bản án số: 30/2019/HSST ngày 12/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau xử phạt 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Quyết định hì nh phạ t chung bị cá o Trầ n Hoà ng Th (Th Gà) phải chấp hành là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2019.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Trầ n Hoà ng Th bồi thường cho Nguyễ n Văn C số tiền 2.500.000 (Hai triệ u năm trăm nghì n) đồng.

Kể từ ngày anh Nguyễ n Văn C có yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả cho anh C khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trầ n Hoà ng Th phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghì n đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ