vanban.org

Bản án 48/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị T 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/HS-ST
Ngày: 29-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thế Chính.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Phi Anh Toàn.

Bà Đặng Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Chu Văn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Thị T, sinh năm 1992 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp 3, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Cạo mủ cao su; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1961, có 01 con sinh năm 2017, tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2012/HSST ngày 12/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt số tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (Chấp hành xong ngày 12/8/2019); tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Võ Văn T2, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Ông Trần Trọng K, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

3.Bà Bồ Thị T3, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 09/8/2019, Trần Thị T, Võ Văn T2 và Trần Trọng K đi đến quán cà phê của bà Bồ Thị T3 tại ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương để uống nước. Tại quán nước, bà T3 rủ T, T2, K chơi đánh bài thắng thua bằng tiền thì được mọi người đồng ý. Bà T3 lấy bộ bài 52 lá đã qua sử dụng ở trong quán ra để cả nhóm cùng chơi bằng hình thức chơi bài cào dùa với số tiền 50.000 đồng/người/tụ. Khoảng 09 giờ 10 phút, Công an huyện Bắc Tân Uyên phối hợp với Công an xã T, huyện B phát hiện bắt quả tang và thu giữ: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; thu giữ của Trần Thị T 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng và số tiền 650.000 đồng; thu giữ của Võ Văn T2 01 điện thoại di động Nokia màu trắng và số tiền 450.000 đồng trong túi quần bên trái, 1.300.000 trong túi quần bên phải; thu giữ của Trần Trọng K 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng và số tiền 1.012.000 đồng đang cầm trên tay; thu giữ của Bồ Thị T3 số tiền 460.000 đồng. Quá trình điều tra xác định:

Trần Thị T mang theo số tiền 800.000 đồng, sử dụng hết số tiền 800.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua số tiền 150.000 đồng, còn lại 650.000 đồng.

Võ Văn T2 mang theo số tiền 2.050.000 đồng, sử dụng số tiền 750.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua hết số tiền 300.000 đồng.

Trần Trọng K mang theo số tiền 562.000 đồng, sử dụng hết số tiền 562.000 đồng để đánh bạc, kết quả thắng được số tiền 450.000 đồng.

Bồ Thị T3, mang theo số tiền 460.000 đồng, sử dụng số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, kết quả không thắng, không thua.

Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 2.212.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2012/HSST ngày 12/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt Trần Thị T số tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, bị cáo T chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Ngày 28/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Trần Thị T để điều tra về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của ông Võ Văn T2, ông Trần Trọng K và bà Bồ Thị T3 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 26/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người số tiền 1.500.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 53/CT-VKS-BTU ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 24 tháng đến 30 tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng bị thu giữ là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 2.212.000 đồng sử dụng đánh bạc, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Số tiền 1.300.000 đồng thu giữ của ông T2 và số tiền 360.000 đồng thu giữ của bà T3 không sử dụng đánh bạc, đề nghị trả lại cho ông T2 và bà T3.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng thu giữ của Trần Thị T, 01 điện thoại di động Nokia màu trắng thu giữ của Võ Văn T2, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng thu giữ của Trần Trọng K, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã trả lại cho bị cáo Trần Thị T, ông Võ Văn T2v à ông Trần Trọng K.

Bị cáo thống nhất nội dung bản cáo trạng truy tố, không tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm: Ông Võ Văn T2, ông Trần Trọng K và bà Bồ Thị T3 có đơn xin giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ lời khai của bị cáo và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 09 tháng 8 năm 2019, tại quán cà phê của bà Bồ Thị T3 thuộc ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Thị T cùng với ông Võ Văn T, ông Trần Trọng K và bà Bồ Thị T3 có hành vi đánh bạc với nhau thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài cào dùa thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 2.212.000 đồng (Trong đó: Bị cáo Trần Thị T sử dụng số tiền 800.000 đồng, ông Võ Văn T sử dụng số tiền 750.000 đồng, ông Trần Trọng K sử dụng số tiền 562.000 đồng và bà Bồ Thị T3 sử dụng 100.000 đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2012/HSST ngày 12/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt Trần Thị T số tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, bị cáo T chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do đó, Bản cáo trạng số 53/CT-VKS-BTU ngày 14 tháng 10 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, từng bị xét xử về tội đánh bạc, nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo có cha tên Trần Văn T1 (T) được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất và bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi là tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vai trò của bị cáo: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo bị rủ rê và là người thực hành.

Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, số tiền sử dụng phạm tội không lớn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải cách ly khỏi xã hội và xử phạt bị cáo bằng hình phạt chính là cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo.

Hành vi của ông Võ Văn T2, ông Trần Trọng K và bà Bồ Thị T3 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 2.212.000 đồng sử dụng đánh bạc cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Số tiền 1.300.000 đồng của ông Võ Văn T2 và số tiền 360.000 đồng của bà Bồ Thị T3 không sử dụng đánh bạc sẽ trả lại cho ông T2 và bà T3.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng thu giữ của Trần Thị T, 01 điện thoại di động Nokia màu trắng thu giữ của Võ Văn T2, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng thu giữ của Trần Trọng K không liên quan đến phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã trả lại cho bị cáo Trần Thị T, ông Võ Văn T2 và ông Trần Trọng K là phù hợp.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

1.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị T 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trần Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 của Luật Thi hành án hình sự.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 01/LCĐKNCT-TA ngày 23 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 10 năm 2019).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.212.000 đồng (Hai triệu hai trăm mười hai nghìn đồng).

(Trong đó: Số tiền 800.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thị T, số tiền 750.000 đồng thu giữ của ông Võ Văn T2, số tiền 562.000 đồng thu giữ của ông Trần Trọng K và số tiền 100.000 đồng thu giữ của bà Bồ Thị T3).

- Trả lại cho ông Võ Văn T2 số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) và trả lại cho bà Bồ Thị T3 số tiền 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

(Tổng số tiền 3.872.000 đồng tại Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1119985.00000 ngày 27/9/2019 tại Kho bạc Nhà nước huyện Bắc Tân Uyên).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thị T phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ