- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Do vợ chồng mâu thuẫn nên chị R có đơn yêu cầu ly hôn anh C; Con chung đã thành niên nên chị không yêu cầu giải quyết. Chị cũng không yêu cầ…"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 48/2019/HNGĐ- ST Ngày 27- 09 -2019 V/v Ly hôn giữa chị R1 và anh C1. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tòng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Dương;
2.Ông Ngô Văn Sang.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải– Kiểm sát viên.
Trong ngày 27- 09- 2019, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 84/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 04 năm 2019 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 08 năm 2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị R 1, sinh ngà y 18-01-1971; Nơi cư trú: Thôn C2, xã T1, huyệ n T2, tỉnh Thái Bình; Vắng mặt- Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Anh Đỗ Trọ ng C1, sinh ngà y 11- 04- 1967; Nơi cư trú: Thôn C2, xã T1, huyệ n T2, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt- lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15- 04- 2019 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị R1 trình bày: Chị và anh C1 ở cùng thôn C2, xã T1 tự nguyện đăng ký kết hôn; đã được Ủ y ban nhân dân xã T1, huyệ n T2, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận đăng ký kế t hôn số 17/1990 ngày 11 tháng 5 năm 1990. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại gia đình chồng . Từ thá ng 6-1993, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, do xxxxx nhưng do con còn nhỏ nên vợ chồng vẫ n chung số ng cù ng nhau . Năm 2015, chị đã viế t đơn xin ly hôn, khi đượ c Tò a á n hò a giải thì vợ chồ ng tuy đoà n tụ nhưng vẫn mâu thuẫ n. Do mâu thuẫn ngà y cà ng trầ m trọ ng nên tháng 12-2017, chị đã về nhà mẹ đẻ ở cù ng thôn sinh số ng . Từ đó , vợ chồng không sống chung với nhau, không quan tâm chăm sóc nhau, không có trách nhiệm với nhau nữa. Vợ chồng đã vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; vì vậy chị có nguyện vọng ly hôn anh C1. Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là : Đỗ Thị N1, sinh ngà y 12-10-1990; Đỗ Thị G1, sinh ngà y 16-03-1996. Cả hai con chung đều đã thành niên , đã có việ c là m và thu nhậ p nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng có cá c tà i sả n chung như sau:
(1). Nhà đất: -Vợ chồ ng có thử a đấ t số 233 tại thôn C 2, xã T1, diệ n tí ch 162m2 ( nguồ n gố c là đấ t củ a bố mẹ anh C 1 cho vợ chồ ng ). Trên thử a đấ t nà y , vợ chồ ng đã xây dự ng nhà , bể nướ c, bế p, công trì nh phụ sau đây:
-02 gian nhà má i bằ ng, xây dự ng năm 2000, diệ n tí ch khoả ng 50m2 ;
-01 gian nhà dướ i má i bằ ng, xây dự ng năm 2010, diệ n tí ch khoả ng 25m2;
-01 bể nướ c 10m3 , xây dự ng năm 2010;
-Hệ thố ng công trì nh phụ gồ m : 01 gian bế p lợ p ngó i BRO XI MĂNG ; 01 gian nhà tắ m và vệ sinh;
(2). Tài sản khác gồm:
-01 tivi SONY 43 insh, mua mớ i năm 2016; giá mua 11.000.000đồ ng;
-01 kệ để tivi, mua mớ i năm 2016; giá mua 5.000.000đồ ng;
-01 bình lọc nước Kangaroo, mua mớ i năm 2017, giá mua: 5.500.000đồ ng;
-01 tủ gỗ 3 ngăn đự ng quầ n á o , mua mớ i thá ng 8-2017, giá mua : 6.000.000đồ ng;
-01 bộ bà n ghế gỗ , mua mớ i năm 2016, giá mua: 9.000.000đồ ng;
-01 tủ lạnh TOSHIBA, mua mớ i năm 2012, giá mua: 4.500.000đồ ng.
(3). Toàn bộ các tài sản kê khai trên đây đều do anh C 1 quản lý sử dụng . Chị không yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t về tà i sả n chung nên chị không giao nộ p tà i liệ u chứ ng cứ , không yêu cầ u xem xé t , thẩ m đị nh tạ i chỗ , không yêu cầ u đị nh giá và không trình bày thêm.
(4). Vợ chồ ng không có nợ chung, không có ai nợ chung vợ chồng nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin tường trình kê khai tài sản gia đình không đề ngày và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh C1 trình bày giống nguyên đơn về việc kết hôn, về con chung; anh xác định vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2016, nguyên nhân do chị R1 nghi ngờ chồng; nay chị R1 xin ly hôn thì anh đồng ý. Anh không yêu cầu giải quyết việc nuôi hai con chung đã thành niên. Về tài sản chung: Vợ chồng có 02 gian nhà má i bằ ng diệ n tí ch khoả ng50m2; 02 gian nhà dướ i má i bằ ng diệ n tí ch khoả ng25m2 và công trình phụ, bể nướ c mưa. Tấ t cả tà i sả n nà y nằ m trên thử a đấ t số 233 tại thôn C2, xã T1 –là đất của bố mẹ anh. Vợ chồng còn có các tài sản chung mà chị R1 đang quản lý trị giá261.499.000đồ ng khi chị rờ i khỏ i nhà đã mang đi gồ m: 01 xe má y cũ , nhãn hiệu PUSAN, đăng ký mang tên Đỗ Trọ ng C2; 01 xe má y mớ i mua năm 2017 bằ ng tiề n chị R1 mang theo khi bỏ đi , mang tên Nguyễ n Thị R1; 02 xe lôi, 01 xe mi ni Nhậ t, 01 quạt cây; tiền bán thóc năm2016 là 6.800.000đồ ng (bán 01 tấ n); Tiền bán gà năm 2016: 5.360.000đồ ng; Tiề n gử i tiế t kiệ m 10.000.000đồ ng tạ i Ngân hà ng Nông nghiệ p và phá t triể n nông thôn Việ t Nam- Chi nhá nh huyệ n T2 (chị R1 là người đứng tên); Năm 2017, chị R1 đã rút 14.339.000đồ ng, chưa tí nh tiề n lã i của khoản t iề n tham gia bả o hiể m DAI -ICHI Việ t Nam- Phòng giao dịch tại Thái Bình từ ngày 29-12-2004 đến 29-12- 2017; mỗ i năm 1.003.000đồ ng; Tiề n anh đưa cho chị R1 là 200.000.000đồ ng. Vợ chồng còn nợ anh Nguyễn Văn C3: 40.000.000đồ ng. Anh C1 yêu cầ u chia đôi số tà i sả n chung, chia đôi số nợ anh C3.
Tại phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, chị R1, anh C1 thuận tình ly hôn; đều không yêu cầu giải quyết việc nuôi hai con chung đã thành niên. Anh chị không thỏa thuận được các nội dung khác nên hòa giải không thành, vụ án phải đưa ra xét xử.
Sau khi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Kiểm sát viên nêu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị R1 và anh C1; không đặt ra giải quyết việc nuôi dưỡng con chung do cả hai con chung đều đã thành niên, khỏe mạnh, có việc làm ổn định. Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết tài sản chung; không thụ lý xem xét yêu cầu của bị đơn. Chị R1 có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng chỉ đến Tòa án một lần; sau đó không đến làm việc, không giao nộp tài liệu chứng cứ. Do bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa; căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị R1 và anh C1 là tự nguyện và hợp pháp. Khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có biện pháp hòa giải nên chị R1 đã về nhà bố mẹ đẻ chị ở cùng xã sinh sống. Từ đó, vợ chồng không sống chung với nhau, không còn thương yêu, không quan tâm chăm sóc nhau nữa. Như vậy, có căn cứ xác định vợ chồng chị R1- anh C1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Khi hò a giải, anh chị thuậ n tì nh ly hôn nên cần áp dụng Khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình xử công nhậ n thuậ n tì nh ly hôn giữ a chị R1 và anh C1.
. Về con chung: Chị R1- anh C1 đều trình bày: Vợ chồng có hai con chung đều đã thành niên là: Đỗ Thị N1, sinh ngà y 12-10-1990; Đỗ Thị G1, sinh ngày 16-03-1996 nên chị R1- anh C1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về tài sản chung:
. Về yêu cầu của bị đơn: Bị đơn là anh C1 cho rằng: Khi đi khỏi nhà, chị R1 quản lý các tài sản trị giá 261.499.000đồ ng gồm: 01 xe má y cũ ,; 01 xe má y mớ i, 02 xe lôi, 01 xe mi ni Nhậ t, 01 quạt cây; tiền bán thóc, bán gà năm 2016 là 6.800.000đồ ng, 5.360.000đồ ng; Tiề n gử i tiế t kiệ m 10.000.000đồ ng; Tiền tham gia bảo hiểm 14.339.000đồ ng; Tiề n anh đưa cho chị R1 số tiền 200.000.000đồ ng. Bị đơn đã được Tòa án giải thích nghĩa vụ chứng minh và hậu quả của việc không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ; đã được Tòa án yêu cầu xuất trình giao nộp tài liệu chứng cứ chứng minh nhưng bị đơn vẫ n không có chứng cứ giao nộp Tòa án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về nghĩa vụ chứng minh “1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.”. Mặt khác, nguyên đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu này của bị đơn. Vì vậy, yêu cầu của bị đơn không được chấp nhận để giải quyết trong vụ án này, bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác, nếu có yêu cầu.
-Bị đơn yêu cầu chia đôi số nợ 40.000.000đồng do bị đơn vay riêng của vợ chồng anh Nguyễn Văn C3, chị Phạm Thị N2. Anh C3- chị N2 xác định: Đây là khoản nợ riêng của anh C3 nên anh chị không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Nguyên đơn không chấ p nhậ n khoả n nợ trên. Vì vậy, Tòa án không xem xét giải quyế t cá c khoả n nợ nà y . Anh C3, chị N2 không phải người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này; anh C3, chị N2 có quyền khởi kiện vụ án khác, nếu có yêu cầu.
. Về tài sản nguyên đơn, bị đơn thống nhất: Chị R1- anh C1 đều xác định: Vợ chồng có 50m2 nhà mái bằng (02 gian nhà trên); 25m2 nhà mái bằng (nhà dưới) và công trình phụ, bể nước mưa. Tất cả nằm trên thửa đất số 233, diện tích 162m2 tại thôn C2, xã T1, huyện T2, tỉnh Thái Bình và hiện do anh C1 quản lý, sử dụng. Nguyên đơn, bị đơn đều xác định nguồn gốc đất là của bố mẹ anh C1. Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết ; bị đơn không giao nộp tài liệu chứng cứ nên Tòa án không xem xé t giả i quyế t.
. Nguyên đơn trình bày nhưng không yêu cầu giải quyết đối với các tài sản do bị đơn đang quản lý gồm: 01 tủ lạnh TOSHIBA; 01 tivi SONY 43 inhs; 01 kệ gỗ để tivi; 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 bình lọc nước Kangaroo; 01 tủ quần áo tủ gỗ, 03 ngăn.
. Về án phí: Nguyên đơn là chị R1 phải chịu 300.000,đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 228; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 1 Điều 51; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễ n Thị R1 và anh Đỗ Trọng C1.
2. Về con chung: -Vợ chồng chị R1- anh C1 có hai con chung là Đỗ Thị N1, sinh ngà y 12-10-1990; Đỗ Thị G1, sinh ngà y 16-03-1996.
-Hai con chung đều đã thành niên nên nguyên đơn, bị đơn đều không yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị R1 phải nộp toàn bộ 300.000,đồng án phí ly hôn; được trừ vào số tiền 300.000,đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001762 ngày 09- 04- 2019 của Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Chị R1 đã nộp đủ án phí.
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -Đương sự; -Ủy ban nhân dân xã T1, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình; -VKDND huyện Thái Thụy; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trầ n Văn Tò ng |