vanban.org

Bản án 48/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Đỗ Thị Kim D được ly hôn với Nguyễn Hoàng Tổng E.

Về con chung: Đỗ Thị Kim D được quyền tiếp tục nuôi con là Nguyễn Hoàng P sinh ngày 05/11/2017. Đỗ Thị Kim D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Nguyễn Hoàng Tổng E trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Đỗ Thị Kim D được ly hôn với Nguyễn Hoàng Tổng E.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 01-10-2019
V/v Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phát Triển.

Ông Đặng Văn Hai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Phát Đạt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 01 tháng 10 năm 2019 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2019/TLST-HNGĐ, ngày 13/6/2019 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 622/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 16 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Đỗ Thị Kim D, sinh năm: 1999; Địa chỉ: số nhà 789C/6 ấp TP, xã TP, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; Tạm trú: số nhà 740C/6 ấp TP, xã TP, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

- Bị đơn: Nguyễn Hoàng Tổng E, sinh năm: 1998; Địa chỉ: số nhà 789C/6 ấp TP, xã TP, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03/6/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn Đỗ Thị Kim D trình bày:

Vào năm 2015, do tự tìm hiểu nhau đến năm 2017 chị Đỗ Thị Kim D và anh Nguyễn Hoàng Tổng E tổ chức lễ cưới, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phước vào ngày 05/01/2018; Quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẩn, do anh Nguyễn Hoàng Tổng E không chịu lao động để có tiền phụ giúp gia đình mà thường xuyên nhậu, chị Đỗ Thị Kim D đã nhiều lần khuyên can anh Nguyễn Hoàng Tổng E nhưng không được nên vợ chồng bất đồng quan điểm thường hay cải vả. Từ đó, vào đầu tháng 5/2019 chị Đỗ Thị Kim D cùng con quay về nhà cha mẹ ruột sống, ly thân với anh Nguyễn Hoàng Tổng E đến nay. Nay chị Đỗ Thị Kim D thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Tổng E. Về con chung, vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hoàng P sinh ngày 05/11/2017, từ khi vợ chồng ly thân chị Đỗ Thị Kim D nuôi con cho đến nay, chị Đỗ Thị Kim D yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi Nguyễn Hoàng P và không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng Tổng E cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, chị Đỗ Thị Kim D không yêu cầu giải quyết; Về nợ chung, chị Đỗ Thị Kim D cho rằng không có không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng Tổng E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hôn nhân: Đỗ Thị Kim D và Nguyễn Hoàng Tổng E có đăng ký kết hôn ngày 05/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phước là theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là Nguyễn Hoàng Tổng E không chịu lao động để có tiền phụ giúp gia đình mà thường xuyên nhậu nên vợ chồng bất đồng quan điểm thường cải vả, vợ chồng ly thân từ đầu tháng 5 năm 2019 đến nay, mâu thuẫn đến mức không thể hàn gắn, không ai quan tâm đến ai, tình trạng hôn nhân của Đỗ Thị Kim D và Nguyễn Hoàng Tổng E như trên được chứng minh bằng hành động cụ thể là Nguyễn Hoàng Tổng E không chấp hành các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án để được hòa giải đoàn tụ, bỏ mặt không ý kiến gì, đồng thời cố ý không chấp hành pháp luật. Mặc dù, Hội đồng xét xử đã động viên nhưng Đỗ Thị Kim D vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với Nguyễn Hoàng Tổng E, mâu thuẫn của Đỗ Thị Kim D và Nguyễn Hoàng Tổng E là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc Đỗ Thị Kim D yêu cầu ly hôn là thỏa mãn theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Đỗ Thị Kim D là có căn cứ.

[2] Về con chung: Đỗ Thị Kim D và Nguyễn Hoàng Tổng E có 01 con chung là Nguyễn Hoàng P sinh ngày 05/11/2017, từ khi vợ chồng xa nhau Đỗ Thị Kim D trực tiếp nuôi con, Đỗ Thị Kim D yêu cầu tiếp tục nuôi Nguyễn Hoàng P, việc giao con cho ai nuôi là xem xét điều kiện để nuôi con, chị Đỗ Thị Kim D đang trực tiếp nuôi dạy con tốt, có đủ điều kiện nuôi con, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị Kim D là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về cấp dưỡng: Nguyễn Hoàng Tổng E không trực tiếp nuôi con, đáng lý ra thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng Đỗ Thị Kim D không yêu cầu Nguyễn Hoàng Tổng E cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét.

[4] Về tài sản và nợ chung: Đỗ Thị Kim D không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét.

[5] Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với Nguyễn Hoàng Tổng E để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử nên xét xử vắng mặt đối với Nguyễn Hoàng Tổng E theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[6] Về án phí: Nguyên đơn Đỗ Thị Kim D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Đỗ Thị Kim D được ly hôn với Nguyễn Hoàng Tổng E.

2. Về con chung: Đỗ Thị Kim D được quyền tiếp tục nuôi con là Nguyễn Hoàng P sinh ngày 05/11/2017.

Đỗ Thị Kim D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở Nguyễn Hoàng Tổng E trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí và tạm ứng án phí: Đỗ Thị Kim D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà Đỗ Thị Kim D đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001609, ngày 12/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Đỗ Thị Kim D đã nộp xong).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/10/2019). Đối với bị đơn không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ