vanban.org

Bản án 48/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 27/09/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV đối với anh Trần Văn T2.

Buộc anh Trần Văn T2 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền tính đến ngày 27/9/2019 theo Hợp đồng tín dụng số 20160808-101066-1400 ngày 08/8/2016, gồm: Nợ gốc là 31.292.659 đồng; Lãi phát sinh: 31.213.955 đồng, tổng cộng là 70.506.614 đồng. Kể từ ngày 28/9/2019, anh Trần Văn T2 c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV đối với anh Trần Văn T2.
  • Căn cứ chính? Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN Về việc sửa đổi, bổ sung một…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
___________________________________
Bản án số:48/2019/DS-ST
Ngày: 27-9-2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Lương Vân Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Xuân Đính

2. Bà Hoàng Thị Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 69/2019/TLST-DS ngày 24/4/2019 về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54a/QĐXXST-DS ngày 26/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43b/2019/QĐST-DS ngày 10/9/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP VNTV (gọi tắt là V); trụ sở chính: Số 89, phường LH, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị; người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A – Phó giám đốc Trung tâm pháp luật ngân hàng;

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lý Viết T – Trưởng bộ phận xử lý nợ; ông Đào Duy Hoàng T1 và ông Hồ Văn S – Cán bộ xử lý nợ. Có mặt anh N.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn T2, sinh năm 1991; Cư trú tại: Thôn TL, xã TL, huyện ĐA, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo Đơn khởi kiện ngày 14/2/2019 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP VNTV (Sau đây gọi tắt là V ) do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 08/8/2016, anh Trần Văn T2 và V ký kết hợp đồng tín dụng: Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ dịch vụ ngân hàng và vay vốn số 20160808-101066-1400, số tiền vay theo thỏa thuận là 52.500.000đ, thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất 39%/năm;

V đã giải ngân cho bị đơn đủ số tiền 52.500.000 đồng của hợp đồng 20160808-101066-1400.

Quá trình thực hiện các hợp đồng, anh T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V, nên các khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn.

Nay tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tính đến ngày 27/9/2019 là 70.506.614 đồng, trong đó: Gốc: 31.292659 đồng; Lãi phát sinh: 39213955 đồng. Nguyên đơn yêu cầu tiếp tục tính lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký và theo quy định pháp luật đến khi trả hết nợ.

Bị đơn là anh Trần Văn T2 đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên anh T2 không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án nhiều lần đến nhà để lấy lời khai nhưng anh T2 đều không có mặt ở nhà nên không thể lấy được lời khai của anh T2.

Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét

xử tính tiền lãi đến ngày xét xử và rút yêu cầu về lãi phạt chậm trả.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng

trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn là anh T2 vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và tại tất cả các phiên tòa là không chấp hành đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả nguyên đơn tiền gốc, lãi tính đến ngày 27/9/2019 theo yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng kể từ sau ngày xét xử đến khi trả xong toàn bộ nợ gốc.

Về án phí, bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ hồ sơ pháp nhân của Ngân hàng TMCP VNTV, căn cứ mục đích vay vốn trong các hợp đồng tín dụng là vay tiêu dùng. Vì vậy Tòa án thụ lý vụ án dân sự với quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Bị đơn là anh Trần Văn T2 đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên anh T2 không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt anh T2 theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi anh Trần Văn T2 trả nợ hợp đồng tín dụng: Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ dịch vụ ngân hàng điện tử số 20160808-101066-1400 ngày 08/8/2016 nhận thấy:

Việc các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc vay tiền thông qua hình thức cấp thẻ tín dụng là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, đúng quy định về hoạt động của ngân hàng thương mại quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; phù hợp quy định tại Khoản 7 Điều 16 Quyết định số 1627/2011/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Vì vậy việc nguyên đơn khởi kiện đối với các hợp đồng tín dụng dưới hình thức Đề nghị phát hành thẻ là có căn cứ.

Về việc tính lãi: Theo khoản 2 Điều 91 Luật của các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Điều 11 và Khoản 2 Điều 13 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng nhà nước quy định:

“Điều 11. Lãi suất cho vay

1. Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

2. Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng”

“Điều 13. Trả nợ gốc và lãi vốn vay

2. Khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả nợ đúng

hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi, thì tổ chức tín dụng chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn.”

Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 quy định: “Tổ chức

tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả.”

Theo quy định tại Điều 20 Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Ngân hàng nhà nước, chủ thẻ phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn các khoản phí, tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ.

Việc nguyên đơn tính lãi suất của dư nợ: Hợp đồng tín dụng số: 20160808-101066-1400 ngày 08/8/2016 thỏa thuận mức lãi suất là 39%/năm là phù hợp Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước nên được chấp nhận.

Việc nguyên đơn rút yêu cầu tiền phạt chậm trả là phù hợp quy định pháp luật nên được Tòa án chấp nhận.

Do đó, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn, buộc bị đơn phải trả nguyên đơn số tiền tính đến ngày 27/9/2019 gồm: Nợ gốc là 31.292.659 đồng; Lãi phát sinh: 31.213.955 đồng, tổng cộng là 70.506.614 đồng.

Theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng và quy định tại Án lệ số 08/2016/AL được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16-5-2013, được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì kể từ sau ngày xét xử, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán của PDPD1800500003 ngày 26/12/2016, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng và đề nghị phát hành thẻ tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn

không phải chịu án phí nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định

pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 463,466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2005; Khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14-4-2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-2-2005; Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Ngân hàng nhà nước; Án lệ số 08/2016/AL; Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thượng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV đối với anh Trần Văn T2.

Buộc anh Trần Văn T2 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền tính đến ngày 27/9/2019 theo Hợp đồng tín dụng số 20160808-101066-1400 ngày 08/8/2016, gồm: Nợ gốc là 31.292.659 đồng; Lãi phát sinh: 31.213.955 đồng, tổng cộng là 70.506.614 đồng.

Kể từ ngày 28/9/2019, anh Trần Văn T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán của các Hợp đồng tín dụng theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà anh Trần Văn T2 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP VNTV theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP VNTV.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc anh Trần Văn T2 nộp 3.525.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả Ngân hàng TMCP VNTV được số tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0008432 ngày 23/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, Ngân hàng TMCP VNTV có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ