vanban.org

Bản án 48/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn Q - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 48/2018/HSST.
Ngày: 07-02-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Văn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân nhân:

1. Ông Nhữ Quang Hưng

2. Bà Trương Thị Thủy

- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Lầu A Thống - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2018/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Cà Văn Q; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/01/1999 tại huyện SM, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản K, xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn C, sinh năm 1975 và bà Lường Thị M, sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam ngày 17/10/2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 16/10/2017 Q đang đứng một mình tại cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La thì gặp một người thanh niên dân tộc Mông giống người nghiện giới thiệu tên là Ph nhà ở xã CM, huyên TC, tỉnh Sơn La qua trò chuyện Q hỏi P biết chỗ nào có ma túy bán không, mua một ít về sử dụng, P đồng ý, Q đưa cho P số tiền: 100.000 đồng, P cầm tiền và điều khiển xe chở theo Q đi lên huyện TC, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy. Đến thị trấn TC thì P lấy điện thoại gọi cho một người nào đó hỏi mua ma túy, sau đó P chở Q đi vào trong cầu đường vào bệnh viện đa khoa huyện TC, khi đến cầu thì có một người thanh niên dân tộc Mông (Q không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) đang đứng đợi. Gặp nhau, P đưa cho người thanh niên đó 200.000 đồng, người thanh niên cầm tiền rồi lấy ra một bao thuốc lá Thăng Long đã bóc dở và bảo bên trong có ma túy rồi. P quay sang bảo Q cầm, Q cầm bao thuốc và mở xem thấy bên trong có chứa một gói nilon màu trắng bên trong chứa bột cục màu trắng Q biết là heroin. Sau đó Q cất bao thuốc lá bên trong chứa ma túy vào trong túi quần đằng trước bên phải đang mặc rồi ngồi sau xe máy do P điều khiển đi về. Ra đến QL6A thuộc Tiểu khu 17 – TT TC, huyện TC, tỉnh Sơn La thì P bảo Q xuống xe P đi mua thức ăn, sau đó Q xuống xe đợi được P khoảng 10 phút thì có tổ công tác Công an huyện TC, tỉnh Sơn La vào yêu cầu kiểm tra ma túy đối với Q thì phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng nêu trên. ( BL 29 - 39 HS ).

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa bột cục màu trắng nghi là Hêrôin (theo Cà Văn Q khai là Hêrôin); và 01 bao thuốc lá Thăng Long đã bóc dở bên trong còn 04 điếu thuốc lá. ( BL 01 - 02 HS ).

Hồi 08 giờ 00 phút ngày 17/10/2017 Công an huyện TC, tỉnh Sơn La phối hợp với phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm P cân tịnh số bột màu trắng thu giữ của Cà Văn Q và xác định được trọng lượng là 0,48 gam rút 0,1 gam ký hiệu Q1 gửi phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La để giám định chất ma túy, còn lại 0,38 gam ký hiệu Q2 nhập kho vật chứng ( BL 22 HS).

Tại kết luận giám định số 936/KLMT ngày 21/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Q1 là chất ma túy, loại chất Hêrôin, trọng lượng của mẫu vật gửi giám định là 0,1 gam. Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được của Cà Văn Q là 0,48 gam loại chất Hêrôin. ( BL 24 HS ).

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 16/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố bị can Cà Văn Q về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Cà Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cà Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Cà Văn Q mức án từ 15 đến 18 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 17/10/2017 ( là ngày bắt giữ bị cáo ).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS năm 1999.

Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS năm 2015 tuyên:

Tiêu hủy 0,38 gam (không phẩy ba mươi tám gam) chất bột Hêrôin ký hiệu Q2 được niêm P trong P bì thư.

Tiêu hủy 01 bao thuốc lá Thăng Long, đã bóc dở, bên trong còn 04 điếu thuốc lá.

Bị cáo Cà Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án như: biên bản hỏi cung bị can; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm P, mở niêm P vật chứng của vụ án để lấy mẫu giám định; kết luận giám định.

Lời nói sau cùng của bị cáo Cà Văn Q: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay bị cáo đã thực sự nhận ra lỗi lầm, bị cáo rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, bị cáo xin được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi tàng trữ trái phép 0,48 gam loại chất Hêrôin của bị cáo Cà Văn Q nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bởi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 như quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC.

Tại Điều 194 BLHS 1999 quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Tuy bộ luật hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật, nhưng tại thời điểm bị cáo Cà Văn Q phạm tội thì bộ luật hình sự 2015 vẫn chưa có hiệu lực pháp luật. Nhưng theo Nghị quyết số số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, Khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 thì thấy mức hình phạt cùng một tội danh theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 (từ 02 năm đến 07 năm tù) và điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 (từ 01 năm đến 05 năm), thì mức hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 là có lợi hơn cho bị cáo. Do vậy hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 để xét xử bị cáo Cà Văn Q, tạo cơ hội cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Tại Điều 249 BLHS 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

………………………….

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

……………………………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý và là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Do đó cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 có mức hình phạt từ 01 đến 05 năm để xét xử đối với bị cáo Cà Văn Q.

Xét nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, chưa có tiền sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc đấu tranh với tệ nạn ma túy. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy không lớn, mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015.

Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Đối với 0,38 gam (không phẩy ba tám gam) chất bột Hêrôin ký hiệu Q2 là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 bao thuốc lá Thăng Long đã bóc dở, bên trong có 04 điếu thuốc lá, không có giá trị sử dụng. Nên áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS năm 2015, để tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người thanh niên tên là P nhà ở xã CM, huyện TC, tỉnh Sơn La là người góp tiền và chở Q đi mua ma túy và người thanh niên dân tộc Mông đã bán ma túy cho Q và P, nhưng do Q không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của hai đối tượng nêu trên do vậy không có căn cứ để yêu cầu cơ quan điều tra điều tra, xác minh làm rõ.

Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 BLTTHS năm 2015.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 BLTTHS năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Cà Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Cà Văn Q: 15 ( Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 17/10/2017 ( là ngày bắt giữ bị cáo ).

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Cà Văn Q

3. Xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS năm 2015 tuyên:

Tiêu hủy 0,38 gam (không phẩy ba tám gam) chất bột Hêrôin ký hiệu Q2 được niêm P trong P bì thư.

Tiêu hủy 01 bao thuốc lá Thăng Long đã bóc dở bên trong còn 04 điếu thuốc lá.

4. Án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Cà Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, 333 BLTTHS năm 2015: Báo cho bị cáo Cà Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ