- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Ngọc T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đà o Ngọ c T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật tố tụ ng hì nh sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2018/HS-ST Ngày 27-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễ n Thá i Hà .
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Nguyễ n Thanh Hà .
Bà: Vũ Thị Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang-Thư ký tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễ n Thế Hù ng- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại nhà Văn hóa phường Bắc Cường , tổ 8, phườ ng Bắ c Cườ ng, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử công khai lưu độ ng vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Đà o Ngọ c T , sinh ngày 14 tháng 12 năm 1987, tại tỉnh Y. Nơi cư trú : Tổ 20, phườ ng C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Đà o Ngọc L, sinh năm 1948 và bà Phạm Thị S, sinh năm 1961. Trú tại tổ 20, phườ ng C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; bị cáo có vợ là Mai Thị Ng, sinh năm 1987 (Đã ly hôn năm 2016). Trú tại thị trấn S, huyệ n S, tỉnh Lào Cai và có 02 con, lớ n nhấ t sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngà y 26 tháng 4 đến 5 tháng 5 năm 2018 (9 ngày), chấ p hà nh lệ nh cấ m đi khỏ i nơi cư trú từ ngày 5 tháng 5 năm 2018 đến ngày 24 tháng 7 năm 2018. Có mặt.
Ngườ i là m chứ ng: Ông Nguyễ n Công D, sinh năm 1968.
Đị a chỉ: Số nhà 320, đườ ng Nh tổ 29, phườ ng K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 50 phút, ngày 26 tháng 4 năm 2018, tổ công tác Công an thành phố Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 29 phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai phát hiện Đào Ngọc T, sinh năm 1987, trú tại tổ 20 phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai đang đứng tại dãy phò ng trọ số nhà 320 đường Nh, phườ ng K, thành phố L, tỉnh Lào Cai có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác mời người chứng kiến và tiến hành kiểm tra đối với Đào Ngọc T, quá trình kiểm tra Đào Ngọc T tự giác lấy từ trong túi quần dài bên phải đang mặc trên người ra 01 túi nilon màu trắng bên trong có ½ viên dạng nén mà u vàng nhạt. Đào Ngọc T khai nhận đây là ma túy tổng hợp tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo đúng quy định. Ngoài ra còn thu giữ của Đào Ngọc T: 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Đào Ngọc T, số tiề n là 2.400.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng có số IMEI: 353408094847314.
Tại kết luận giám định số 89/GĐMT, ngày 28 tháng 4 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: ½ viên nén mầu vàng nhạt gửi giám định có khối lượng là0,17 gam là loại chất ma túy MDMA.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngà y 29 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai , truy tố đố i vớ i Đà o Ngọ c T về tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma túy’ theo quy đị nh tạ i điể m c khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đà o Ngọ c T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú y”. Áp dụng điể m c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điề u 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đà o Ngọ c T mức án từ 1 năm đến 1 năm 3 tháng tù. Không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung theo khoả n 5 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự .
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a khoản 2 và điể m a khoản 3 Điề u 106 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam chấ t ma tú y MDMD đượ c tá i niêm phong trong ph ong bì thư. Trả lại cho bị cáo Đà o Ngọ c T gồ m: 01 Chứ ng minh thư mang tên Đà o Ngọ c T ; 01 Giấ y phé p lá i xe mang tên Đà o Ngọ c T ; 01 Điệ n thoạ i di độ ng nhã n hiệ u NOKIA mà u đen có số IMEL
: 353408094847314; Tạm giữ của bị cá o Đà o Ngọ c T số tiề n 200.000 đồ ng trong tổ ng số tiề n 2.400.000 để đảm bảo thi hành án về án phí hình sự sơ thẩm . Số tiề n còn lại là 2.200.000 đồ ng trả cho bị cá o.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đà o Ngọ c T tại cơ quan điề u tra và tạ i phiên tòa phù hợ p vớ i lờ i khai củ a bị cáo tại cơ qu an điề u tra, biên bả n bắ t ngườ i phạ m tộ i quả tang, biên bả n thu giữ vậ t chứ ng , lờ i khai ngườ i là m chứ ng , bản kết luận giám đị nh số 89/GĐMT, ngày 28 tháng 4 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉ nh Lào Cai, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa . Như vậ y, có căn cứ xác định ngày 26 tháng 4 năm 2018, bị cáo Đà o Ngọ c T đã tàng trữ ½ viên né n mà u và ng nhạ t có khố i lượ ng 0,17 gam là loại chất ma túy MDMA mục đích sử dụng . Hành vi của bị cáo Đà o Ngọ c T đã xâm phạ m đế n chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước . Như vậ y, Việ n kiể m sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị c áo Đà o Ngọ c T về tộ i “Tà ng trữ trá i phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự là có căn cứ . Hộ i đồ ng xé t xử kế t luậ n bị cá o Đà o Ngọ c T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tạ i điể m c khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự .
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo ĐàoNgọc T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: Hội đồng xét xử nhậ n đị nh trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có mẹ đẻ là bà Phạm Thị S đượ c Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai và Thủ tướng chính phủ tặ ng bằ ng khen năm 2006 và năm 2013. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y bị cáo nhậ n thứ c hiể u biế t phá p luậ t Nhà nước cấm cá nhân , tổ chứ c tà ng trữ , mua bá n, sử dụ ng hoặ c chiế m đoạ t chấ t ma tú y và nhậ n thứ c đượ c tá c hạ i củ a chấ t ma tú y nhưng bị cá o vẫ n tà ng trữ để sử dụ ng . Điề u đó cho thấ y bị cáo không ý thức tôn trọng pháp luật , tu dưỡ ng rè n luyệ n bả n thân , nên cầ n xé t xử mứ c á n phù hợ p tương xứ ng vớ i tính chất mức đ ộ hành vi phạm tộ i củ a bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhấ t đị nh để giá o dụ c , cải tạo bị cáo trở thành công dân tố t cho gia đì nh và xã hội. Xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vậ t chứ ng: Cơ quan điề u tra đã thu giữ củ a bị cá o 0,17 gam chấ t ma túy MDMA, đã trí ch mẫ u giá m đị nh 0,09 gam chấ t ma tú y MDMA giám định đã lưu mẫ u giá m đị nh , nên không đề cậ p xử lý . Số cò n lạ i 0,08 gam chấ t ma tú y MDMA, nên cầ n tị ch thu tiêu hủ y theo quy đị nh phá p luậ t.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng số IMEI: 353408094847314, 01 chứng minh nhân dân, 01giấy phép lái xe mang tên Đào Ngọc T, tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 2.400.000 đồng. Đây là giấ y tờ tù y thân, tài sản hợ p phá p củ a bị cá o không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i. Nên trả lạ i cho bị cá o theo quy đị n h pháp luậ t. Tuy nhiên cầ n tạ m giữ số tiề n 200.000 đồ ng trong tổ ng số tiề n là 2.400.000 đồ ng để đảm bảo thi hành án , số tiề n cò n lạ i là 2.200.000 đồ ng trả lạ i cho bị cá o.
Trong vụ á n: Đào Ngọc T khai nhận nguồn gốc số ma túy MDMA bị thu giữ là do tối ngày 22 tháng 4 năm 2018, Đào Ngọc T đi dự sinh nhật bạn tại quán KARAOKE THE FACE, tại đây Đào Ngọc T gặp 01 người nam giới, không rõ tên, tuổi, địa chỉ cùng đi dự sinh nhật đưa cho Đào Ngọc T 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 01 viên dạng nén màu vàng nhạt, Đào Ngọc T sử dụng hết ½ viên, còn lại ½ viên, Đào Ngọc T cho vào túi nilon cất vào túi quần. Đối với người nam giới đã đưa ma túy cho bị cáo ngày 22 tháng 4 năm 2018, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợ p.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu số tiề n là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đà o Ngọ c T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điể m c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đà o Ngọ c T 01 (Mộ t) năm tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án phạt tù, khấ u trừ thờ i gian tạ m giữ cho bị cáo là 9 (Chín) ngày.
Về vậ t chứ ng : Căn cứ điể m c khoản 1 Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự ; điể m a khoản 2; Điể m a khoả n 3 Điề u 106 Bộ luật tố tụ ng hì nh sự . Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam MDMA đự ng trong phong bì đượ c tá i niêm phong theo quy đị nh bằ ng bì thư in sẵ n củ a Phò ng Kỹ thuậ t hì nh sự Công an tỉ nh Là o Cai , trên mặ t bì có ghi: “Vậ t chứ ng cò n lạ i sau trí ch mẫ u giá m đị nh thu trong vụ Đà o Ngọ c T có hành vi phạm tộ i về ma tú y . Phát hiện (thu giữ ) ngày 26 tháng 4 năm 2018 tại tổ 29, phườ ng Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
Trả lại cho bị cáo Đà o Ngọ c T gồ m: 01 (Mộ t) Chứ ng minh thư mang tên Đà o Ngọ c T ; 01 (Mộ t) Giấ y phé p lá i xe mang tên Đà o Ngọ c T ; 01 (Mộ t) Điệ n thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen có số IMEL: 353408094847314.
Tạm giữ của bị cáo Đà o Ngọ c T số tiề n là 200.000 đồ ng (Hai trăm nghì n đồ ng) trong số tiề n là 2.400.000 đồ ng (Hai triệ u bố n trăm nghì n đồ ng) để đảm bảo cho việ c thi hà nh á n về á n phí hì nh sự sơ thẩ m . Số tiề n cò n lạ i là 2.200.000 đồ ng (Hai triệ u hai trăm nghì n đồ ng) trả cho bị cáo Đà o Ngọ c T.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đà o Ngọ c T phải chịu số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù, th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7, 7a vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù: thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
N¬i nhËn:
| - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, TP; - CATP; - Bị cáo; - Chi cục THATP; - Sở tư phá p; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Hà |