- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cù Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Cù Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2018/HS-ST Ngày 06-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Chủng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Văn Rạng
Ông Vũ Đức Khang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Cù Văn T- Sinh ngày 30 tháng 6 năm 1990 tại xã T, huyện H, tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Xóm xx, xã T, huyện H, tỉnh Nam Định.; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha đẻ là ông Cù Văn S, sinh năm 1964, mẹ đẻ là bà Hoàng Thị V, sinh năm 1966 hiện cả hai đang làm ruộng tại Xóm xx, xã T, huyện H, tỉnh Nam Định, gia đình có 03 chị em, T là con thứ hai, vợ là Trần Thị Đ, sinh năm 1995, hiện làm ruộng ở Xóm xx, xã T, huyện H, tỉnh Nam Định, có 02 con: con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không;
Bị cáo Trọng bị bắt giam, giữ từ ngày 23/5/2018 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nghĩa Hưng, có mặt;
- Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn V – Sinh năm: 1958; Nơi cư trú: Xóm xx, xã T, huyện H, tỉnh Nam Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 23/5/2018, tại khu vực trục đường tỉnh lộ 490C thuộc xóm xx, xã T, huyện H, Nam Định, tổ công tác Công an huyện Nghĩa Hưng phát hiện bắt quả tang Cù Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước T đang mặc 01 gói ni lông màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Niêm phong ký hiệu M), T khai đó là heroine T mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó đưa T về trụ sở UBND xã Nghĩa Thái lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Cù Văn T ở xóm xx, xã T, huyện H, Nam Định: Không thu giữ đồ vật, tài liệu.
Tại bản kết luận giám định số 463/GĐKTHS ngày 23/5/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 3,739 gam.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng, Cù Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai nhận: Khoảng 6 giờ ngày 23/5/2018, Cù Văn T đi xe buýt lên khu vực cầu Đò Quan, thành phố Nam Định mua của 01 người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói heroine với giá 1.000.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau đó, T đi xe buýt về đến khu vực trục đường tỉnh lộ 490C thuộc xóm xx, xã T, huyện H, Nam Định, T xuống xe thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 02/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo Cù Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như tội danh và điều luật đã nêu; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Cù Văn T 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Đề nghị áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng; Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tự nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối lỗi. Bị cáo trình bày lời sau cùng: thừa nhận hành hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và xin miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền).
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về định tội: Lời khai nhận của bị cáo Cù Văn T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay. Như vậy đã có đủ cơ sở xác định khoảng 7 giờ 30 phút ngày 23/5/2018, tại khu vực trục đường tỉnh lộ 490C thuộc xóm xx, xã T, huyện H, Nam Định, Cù Văn T, sinh năm 1990, ở xóm xx, xã T, huyện H, Nam Định có hành vi tàng trữ trái phép 3,739 gam heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Cù Văn T đã xâm phạm tới chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang tích cực đấu tranh phòng chống các tệ nạn ma tuý, nhằm loại bỏ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó đủ cơ sở xác định bị cáo Cù Văn T phạm tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn kỷ cương tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét thấy trong quá trình tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, có sự ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình Sự. Xét thấy cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội để tập trung giáo dục, cải tạo bị cáo một thời gian nhất định mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo thuộc diện khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Cù Văn T là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Cù Văn T ngày 23 tháng 5 năm 2018 tại khu vực cầu Đò Quan, thành phố Nam Định hiện chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 gói ma túy thu giữ của Cù Văn T có khối lượng 3,739 gam Heroine (hoàn trả sau giám định 3,697 gam) và toàn bộ vỏ bao gói mà Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Nam Định hoàn trả lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Cù Văn T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, Điều136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự;
Căn cứ các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
[1] Tuyên bố bị cáo Cù Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
[2] Xử phạt Cù Văn T 03 (ba) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2018
[3] Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Cù Văn T mà phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã hoàn trả sau giám định gồm: M là 3,697 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói.
Toàn bộ vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03/8/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng.
[4] Buộc bị cáo Cù Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Nghĩa Hưng; - Công an huyện Nghĩa Hưng; - Nhà tạm giữ CA huyện Nghĩa Hưng; - Chi cục Thi hành án huyện Nghĩa Hưng; - UBND xã T; - Bị cáo Cù Văn T; - Án văn + lưu hồ sơ; - Thi hành án phạt tù. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) |