vanban.org

Bản án 48/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn B và Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo. Xử phạt: Nguyễn Văn B 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 20/5/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn B và Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2018/HS-ST
Ngày: 28 - 9 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tống Văn Tuyên.

2. Bà Nguyễn Thị Chung.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Dân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2018/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn B, sinh năm 1991; Tại: QT, BS, TH; Nơi cư trú: Thôn 4, xã QT, thị xã BS, tỉnh TH; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Bùi Thị L; Con ông: Không xác định; Vợ, con: Chưa; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2018 đến ngày 26/5/2018 chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn C, sinh năm 1989; Tại: HB, HT, TH; Nơi cư trú: Thôn B, xã HB, huyện HT, tỉnh TH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T và bà Trịnh Thị M; Vợ, con: Chưa; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2018 đến ngày 26/5/2018 chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Tất T, sinh năm 1982

Địa chỉ: Đường 7, HB, HB, , tỉnh TH.

Có mặt tại phiên tòa

Người chứng kiến: Anh Đinh Quốc C, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn 1, xã HY, huyện HT, tỉnh TH.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 5 năm 2018 Nguyễn Văn B ở nhà tại xã QT, thị xã BS gọi điện cho Lê Văn C ở xã HB huyện HT, để rủ C cùng góp tiền mỗi người 100.000đ đi mua ma túy về sử dụng. C đồng ý và đi xe máy BKS 36B3-51307 của anh trai là Lê Tất T đến đón B đi mua ma túy, C đón B ở đầu đường Quốc lộ 217 đoạn giao nhau với Quốc lộ 1A, tiếp tục điều khiển xe máy trở B vào huyện Hà Trung. Khi đến nhà máy thuốc lá thuộc Tiểu khu 3 thị trấn Hà Trung, C rẽ sang đường đi vào con đường bên cạnh nhà máy thuốc lá đi thẳng đến ngã 3 thì dừng xe. Tại đây B xuống xe và góp cho C 100.000đ rồi đứng chờ C đi mua ma túy. C đi thẳng qua ngã 3 thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi không quen biết, C hỏi người đàn ông có ma túy không bán cho 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng), người đàn ông đồng ý, C đưa tiền, người đàn ông đưa cho C một gói nhỏ được bọc nilon màu xanh, C cầm gói nhỏ ma túy đi ra gặp B và đưa cho B cầm ở tay trái, rồi C trở B theo đường cũ về nhà. Khi đi đến nghĩa trang Yên Xá thuộc thôn Yên Xá, xã Hà Yên thì B và C đi xe vào nghĩa trang để sử dụng ma túy, lúc này khoảng 11 giờ 15 phút. B và C vừa dừng xe chưa kịp sử dụng bị Tổ công tác phòng chống tội phạm về ma túy Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đến kiểm tra, do sợ phát hiện nên B đã thả gói ma túy đang cầm trên tay trái xuống cạnh chỗ B và C đang đứng và bị Công an phát hiện và thu giữ ngay tại chỗ. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ 01 gói nhỏ được bọc bằng nilon màu xanh, bên trong là lớp giấy trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn nghi là ma túy, ngay tại chỗ B và C đã khai nhận gói nhỏ là ma túy vừa góp tiền mua về sử dụng; Tổ công tác thu giữ 01 xe máy B kiểm soát 36B3 - 51307, niêm phong gói nghi là ma túy đã thu giữ, đưa B và C về Công an huyện Hà Trung lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 1023/MT-PC54 ngày 25/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục của phong bì niêm phong ký hiệu “Vụ Nguyễn Văn B và Lê Văn C” gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng(Khối lượng) 0,190g (Không phẩy một chín mươi gam) loại: Heroine.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS-HT ngày 16/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Văn B và Lê Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với hai bị cáo. Đề nghị xử phạt Nguyễn Văn B từ 21-24 tháng tù, Lê Văn C từ 18 - 21 tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy là Hêrôin là mẫu vật còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh hình phạt và các vấn đề khác; Khi nói lời nói sau cùng bị cáo C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo B không nói gì.

Về chiếc xe mô tô C dùng đi mua ma túy là xe của anh Lê Tất T (anh Trai C), C dùng xe đi mua ma túy anh C không biết nên Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho anh T. Anh T không có thắc mắc khiếu nại gì về việc giữ và nhận lại xe mô tô.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi, căn cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B và Lê Văn C đã T khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 20/5/2018 tại nghĩa trang Yên Xá thuộc địa phận xã Hà Yên, huyện Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn B và Lê Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,190g (Không phẩy một chín mươi gam) loại: Heroine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

a..., b...,c Heroine, coocain,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi của các bị cáo: Các bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, tội mà toàn xã hội lên án mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi bởi tác hại của nó đối với giống nòi, đối với trật tự an toàn xã hội, với cuộc sống bình yên của chính gia đình các bị cáo. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng lớn đến các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác; việc đấu tranh với tội phạm ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước đang có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bản thân các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy vì vậy cần phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm giáo dục riêng, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm có tính giản đơn, trong đó Nguyễn Văn B là người có vai trò chính trong vụ án, B là người khởi xướng rủ dê việc mua ma túy, cùng góp tiền đi mua ma túy; Lê Văn C cùng góp tiền đi mua ma túy về sử dụng chung, dùng xe máy của mình đang quản lý để đi mua ma túy và trực tiếp đi mua ma túy, vai trò của C thấp hơn B, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều T khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, không có công ăn việc làm, thu nhập thấp, là đối tượng nghiện ma túy, phạm tội không có tính vụ lợi; Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ chất ma túy còn lại là mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; Chiếc xe mô tô B kiểm soát 36B3-51307 C dùng đi mua ma túy là xe của anh Lê Tất T (anh trai C), C dùng xe đi mua ma túy anh T không biết nên Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho anh T là phù hợp.

. Về nguồn gốc số ma túy các bị cáo mua ma túy của người đàn ông không quen biết ở sau nhà máy thuốc lá Thanh Hóa; Quá trình điều tra Cơ quan điều tra và tại phiên tòa không xác định được danh tính, địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án.

. Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn B và Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với cả hai bị cáo.

Xử phạt: Nguyễn Văn B 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 20/5/2018).

Xử phạt: Lê Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 20/5/2018).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a , khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là Heroine còn lại sau khi trích giám định, tất cả được đựng trong phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín niêm phong ( Đặc điểm của phong bì niêm phong theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung ngày 18/9/2018).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Nguyễn Văn B và Lê Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ