- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2018/HS-ST Ngày 06/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tòng Văn Quân.
- Ông Cà Mạnh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 6 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Quàng Văn S (tên gọi khác: không); sinh ngày 30/7/1974 tại huyện ĐB, tỉnh Đ. Nơi cư trú tại bản N, xã L, huyện ĐB, tỉnh Đ; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hóa 5/12; dân tộc Thái; giới tính Nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Quàng Văn N sinh năm 1934 (đã chết) và bà Quàng Thị P, sinh năm 1934 (đã chết); có vợ Lò Thị P, sinh năm 1974 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án không; tiền sự không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2018 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 08/5/2018, Quàng Văn S trên đường đón xe khách từ Điện Biên quay về nhà thì lên cơn nghiên nên xin xuống xe ở khu vực ngã tư Phì Nhừ để đi tìm mua heroine sử dụng. Sau khi xuống xe, đi bộ được một đoạn thì S gặp, trao đổi và nhờ được một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 25-26 tuổi (không biết tên và địa chỉ) mua hộ heroine. S đưa cho người đàn ông đó 500.000đ, khoảng 20 phút sau người đó quay lại đưa cho S 01 gói heroine được gói trong mảnh nilon màu trắng và 12 viên ma túy tổng hợp được gói trong túi nilon màu xanh. S bẻ một ít heroine để sử dụng ngay tại chỗ. Khi về đến nhà S đem cất dấu số ma túy mua được vào chiếc gang tay màu đen để ở góc nhà. Mục đích là sử dụng dần và đã sử dụng được hai lần. Số còn lại chưa kịp sử dụng thì ngày 11/5/2018 bị tổ công tác Công an xã L phát hiện, bắt quả tang.
Tại hiện trường cơ quan Công an thu giữ 01 gói nhỏ nghi là Heroine và 12 viên ma túy tổng hợp cất dấu ở trong chiếc gang tay màu đen.
Tại biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng hồi 18 giờ 00 phút, ngày 11/5/2018 xác định 01 gói nhỏ chất bột trắng nghi là Heroine thu giữ của Quàng Văn S có khối lượng là 0,15 gam. Trích mẫu gửi giám định là 0,11; 11 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh có tổng khối lượng là 1,3 gam. Trích mẫu giám định 0,28 gam. Tại kết luận giám định số: 492/GĐ-PC54 ngày 22/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu bột màu trắng là ma túy loại Heroine. Mẫu viên nén màu xanh, hồng được xác định là ma túy loại methamphetamine. Không hoàn lại mẫu vật sau giám định.
Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa điều tra được người đàn ông dân tộc Mông đã mua hộ ma túy cho bị cáo S.
Tại Cáo trạng số: 37/CT-VKS-ĐBĐ ngày 02 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Quàng Văn S. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Quàng Văn S từ 20 (hai mươi) tháng đến 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ 0,04 gam Heroine và 1,02 methamphetamine còn lại sau giám định, 01 chiếc gang tay màu đen bị cáo sử dụng để cất dấu ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Quàng Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không bổ sung thêm ý kiến tranh luận gì, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Xét về hành vi của bị cáo Quàng Văn S thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố: Vào khoảng 9 giờ ngày 08/5/2018 vì lên cơn nghiện nên bị cáo đã cố tình mua 01 gói heroine và 12 viên methamphetamine từ người đàn ông dân tộc Mông với giá 500.000đ. Vì mục đích sử dụng cho bản thân nên bị cáo đã tàng trữ số ma túy trên tại nhà và bị cơ quan Công an bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người quả tang vào hồi 15 giờ 00 phút, ngày 11/5/2018; vật chứng thu được là 0,15 gam Heroine và 1,3 gam methamphetamine các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa. Cho nên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Quàng Văn S là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; mục đích tàng trữ sử dụng dần. Hành vi đó của bị cáo Quàng Văn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, làm mất ổn định trật tự an toàn xã hội. Mặc dù hành vi đơn giản mua tàng trữ sử dụng nhưng thuộc trường hợp nghiêm trọng cho nên bị cáo Quàng Văn S phải chịu trách nhiệm đối với hành vi đã gây ra.
Trong vụ án có liên quan đến người đàn ông dân tộc Mông đã mua hộ ma túy cho bị cáo nhưng do không đủ căn cứ điều tra làm rõ nên cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên Đông chưa điều tra xử lý trong vụ án này, HĐXX cần chấp nhận.
. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Quàng Văn S thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Bị cáo Quàng Văn S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xét nhân thân của bị cáo Quàng Văn S thấy rằng bản thân bị cáo một người có trình độ nhất định, độ tuổi nhất định ý thức được tác hại của ma túy nhưng vì ham muốn của bản thân mà bất chấp quy định pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để ngày hôm nay phải chịu sự trừng phạt của pháp luật là điều không thể tránh khỏi.
Từ phân tích về hành vi phạm tội của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo Quàng Văn S và với khối lượng Heroine, methamphetamine mà bị cáo đã tàng trữ. Hội đồng xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cai nghiện cũng như giúp bị cáo nhận thức rõ hơn về sai lầm của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh bị cáo S thuộc hộ nghèo, bản thân bị cáo đang nghiện chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hợp lý cần chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 0,04 gam heroine và 1,02 gam methamphetamine còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
Đối với 01 chiếc gang tay màu đen bị cáo sử dụng để cất dấu ma túy, đã cũ hiện không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
. Về án phí: Bị cáo Quàng Văn S bị kết án lẽ ra phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nhưng Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc Thái, đang cư trú tại xã Luân Giói của huyện Điện Biên Đông là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bản thân gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của UBND xã Luân Giói. Vì vậy, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Xử phạt bị cáo Quàng Văn S 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 11/5/2018).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,04 gam heroine và 1,02 gam methamphetamine còn lại sau giám định.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc gang tay màu đen bị cáo sử dụng để cất dấu ma túy, đã cũ hiện không còn giá trị sử dụng.
Vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 15 phút ngày 03/8/2018 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông.
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn S.
4. Bị cáo Quàng Văn S được quyền kháng cáo toàn bộ bản ántrong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 6/9/2018)./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Điện Biên Đông; -Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên - Nhà tạm giữ C.A huyện Điện Biên Đông; - Phòng NVHS CA Điện Biên Đông; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - THADS huyện Điện Biên Đông; - Phòng KTNV- THA TA tỉnh Điện Biên; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ THA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Hồng Quang |