vanban.org

Bản án 48/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Ái Triều D

Bà Lê Ái Triều Dâng được ly hôn ông Nguyễn Thành T. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Thủy T – sinh ngày 09/6/2001 cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Lê Ái Triều D, bị đơn Nguyễn Thành T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Ái Triều D
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2018/HNGĐ-ST
Ngày 30/5/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên phiên toà: Bà Nguyễn Thị H

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị H

Ông Nguyễn L

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hồng T – Thư ký Toà án, Toà án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Ông Ngô Bảo Nhật L – Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 745/2018/TLST-HNGĐ ngày 12/12/2017 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/4/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 49/2018/QĐST-HNGĐ ngày 11/5/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Ái Triều D – sinh năm 1973

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã N, tỉnh Khánh Hoà

Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T – sinh năm 1970

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã N, tỉnh Khánh Hoà

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2017, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn bà Lê Ái Triều D trình bày: Bà và ông Nguyễn Thành T kết hôn tại UBND xã Q được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 06/01/1997. Quá trình chung sống bà và ông T thỉnh thoảng mâu thuẫn vì ông T nhậu nhẹt. Từ tháng 9/2017 đến nay, ông T hay uống rượu say xỉn rồi xúc phạm và đánh bà gây thương tích. Đến tháng 12/2017, bà và ông T không còn sống chung với nhau nữa. Bà không còn tình cảm với ông T nữa nên yêu cầu được ly hôn ông TTín.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung Nguyễn Lê Thành T – sinh ngày 19/5/1998 và Nguyễn Thị Thủy T – sinh ngày 09/6/2001. Cháu Thành T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết. Bà xin nuôi dưỡng cháu Thủy T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Bà không yêu cầu giải quyết.

2. Ông Nguyễn Thành T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời khai.

3. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của bà Lê Ái Triều D tại phiên tòa thể hiện: Bà và ông Nguyễn Thành T kết hôn tại UBND xã Q được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 06/01/1997. Quá trình chung sống bà và ông T thỉnh thoảng mâu thuẫn vì ông T nhậu nhẹt. Từ tháng 12/2017, bà và ông T không còn sống chung với nhau nữa.Tòa án đã nhiều lần triệu tập để hòa giải và xét xử nhưng ông T vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân giữa ông và bà D. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông T và bà D đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D. Về con chung: Ông bà có 02 con chung Nguyễn Lê Thành T – sinh ngày 19/5/1998 và Nguyễn Thị Thủy T – sinh ngày 09/6/2001. Cháu Thành T đã trưởng thành nên bà D không yêu cầu giải quyết. Bà xin nuôi dưỡng cháu Thủy T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Thủy T có nguyện vọng ở với mẹ nên đề nghị giao cho bà D nuôi dưỡng. Bà D không yêu cầu giải quyết tài sản chung. Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Toà án nhận định:

1. Về tố tụng: Xét thấy bị đơn ông Nguyễn Thành T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung:

Tại phiên tòa bà Lê Ái Triều D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Ái Triều D và ông Nguyễn Thành T kết hôn tại UBND xã Q được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 06/01/1997. Hội đồng xét xử công nhận đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà D yêu cầu ly hôn vì cho rằng quá trình chung sống bà và ông T thỉnh thoảng mâu thuẫn vì ông T nhậu nhẹt. Từ tháng 12/2017, bà và ông T không còn sống chung với nhau nữa. Toà án đã triệu tập ông T để hòa giải và mở phiên toà xét xử nhưng ông T vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân giữa ông và bà D.

Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Lê Ái Triều D và ông Nguyễn Thành T đã không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn giữa ông T và bà D đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D.

- Về con chung: Ông bà có 02 con chung Nguyễn Lê Thành T – sinh ngày 19/5/1998 và Nguyễn Thị Thủy T – sinh ngày 09/6/2001. Cháu Thành T đã trưởng thành nên bà D không yêu cầu giải quyết. Bà xin nuôi dưỡng cháu Thủy T, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Thủy T có nguyện vọng ở với mẹ nên giao cho bà D nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi cho cháu T.

- Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu giải quyết. Tách yêu cầu chia tài sản chung của ông T thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

- Về án phí: Bà Lê Ái Triều D phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự,

Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH2014 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Ái Triều D

1. Bà Lê Ái Triều Dâng được ly hôn ông Nguyễn Thành T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Thủy T – sinh ngày 09/6/2001 cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi cần thiết.

3. Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu giải quyết. Tách yêu cầu chia tài sản chung của ông T thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Bà Lê Ái Triều D phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0003494 ngày 11/12/2017 của chi cục Thi hành án dân sự thị xã N; bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ