- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Oai- Tàng trữ trái phép chất ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? 1-Tuyên bố bị cáo Lê Văn O phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy;
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48 /2017/HSST Ngày 21/ 8 /2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Kiều Văn Thành.
Các hội thẩm nh©n d©n:
1. Ông Tạ Quang Sơn.
2. Ông Nguyễn Văn Đức.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Minh Sơn - Cán bộ
Toà án nhân dân huyện Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà: Bà Trần
Thị Tuyết, Kiểm sát viên.
Ngày 21 th¸ng 8 n¨m 2017, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q,
Thành phố H xét xử c«ng khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 50/2017/HSST ngày 17 th¸ng 7 n¨m 2017 đối với bị cáo: Lê Văn O , sinh năm 1986; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Yên Q, xã T, huyện Q, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; bố đẻ Lê Văn T, sinh năm 1957; mẹ đẻ Lê Thị K, sinh năm 1960; vợ, con; không có; danh chỉ bản số: 98 do Công an huyện Q lập ngày 28/4/2017; tiÒn án, tiền sù: Kh«ng; Nhân thân: Tháng 5/2012, bị áp dụng bắt buộc chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục Lao động xã hội số VI, tại xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn theo Quyết định số: 839/QĐ-UBND huyện Q với thời hạn 02 năm. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/4/2017 tại nhà tạm giữ Công an huyện Q đến nay có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 ngày 27/4/2017, Lê Văn O mượn xe môtô BKS:
29H6-500 của anh Nguyễn Đình L người cùng thôn để xuống khu vực Chùa Trăm gian, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ mua ma túy về sử dụng. Sau khi đến, O gặp một người nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ, O hỏi “ có biết chỗ nào bán heroin không mua hộ” người thanh niên đồng ý. O đưa cho người thanh niên 800.000 đồng, người thanh niên đi đâu không rõ khoảng 5 phút sau quay lại đưa cho O, 04 gói nhỏ heroin, O cầm và đi ra cánh đồng xã Tiên Phương sử dụng hết 02 gói, 02 gói còn lại O đút vào túi quần trước đang mặc đi về đến thị trấn Q thì bị Công an thị trấn Q kiểm tra hành chính phát hiện và lập biên bản quả tang cùng tang vật.
Vật chứng thu giữ: 02 gói nhỏ được bọc bằng giấy màu trắng bên ngoài,
kích thước mỗi gói ( 0,5 X 1,5) cm, bên trong chứa ma túy loại heroin; 01 xe mô tô BKS: 29H6- 500.
Tại kết luận giám định số: 3978/KLGĐ-PC 54 ngày 05/7/2017 của phòng
kỹ thuật hình sự - Bộ công an kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói đều là heroin, trọng lượng 0,210 gam.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo O khai nhận như nội dụng vụ án đã nêu và
thừa nhận do nghiện ma túy từ năm 2010 nên mượn xe mô tô của anh L và mang theo 800.000 đồng xuống khu vực Chùa Trăm gian, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ mua 04 gói heroin về mục đích sử dụng, sau khi mua được O sử dụng 02 gói, 02 gói còn lại để ở túi quần đi về đến thị trấn Q thì bị bắt thu giữ cùng 2 gối ma túy.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 17/7/2017 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Q, Thành phố H truy tố bị cáo Lê Văn O về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q luận tội giữ nguyên
quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn O phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46 và Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn O từ 24 đến 30 tháng tù. Về vật chứng tịch thu tiêu hủy số ma túy; Về án phí bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội và không có tranh luận với bản luận tội của
đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án: Bị cáo đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra,
xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra
Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện về Thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thì thấy: T¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo ®· khai nhËn
toµn bé hµnh vi nh néi dung b¶n c¸o tr¹ng ®· nªu. Lêi khai nhËn cña bÞ c¸o phï hîp víi lêi khai cña ng êi lµm chøng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do ®ã, cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh: Khoảng 15 giờ 30 ngày 27/4/2017, Lê Văn O là đối tượng nghiện ma túy đã mang theo 800.000 đồng đến khu vực chùa Trăm gian, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ để mua của một người nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ 04 gói nhỏ heroin, sau khi mua được O sử dụng 02 gói; 02 gói còn lại Oai để ở túi quần đang mặc và đi về đến thị trấn Q là 17 giờ 25 phút cùng ngày thị bị công an huyện Q bắt quả tang cùng vật chứng là 02 gói heroin; theo kết quả giám định 02 gói đều là heroin, trọng lượng là 0,210 gam. Do đó, bị cáo Lê Văn O ®· ph¹m téi: Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại kho¶n 1 §iÒu 194 Bé luËt h×nh sù nh C¸o tr¹ng sè 49/CT-VKS ngµy 17/7/2017 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn Quèc O truy tè ®èi víi bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo O:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên nhân thân bị cáo năm 2012 bị Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định số 839/QĐ-UBND ngày 16/5/2012 về việc: Đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh với thời hạn 02 năm để xem xét khi Quyết định hình phạt.
-Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo để giảm nên theo điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Khi Quyết định mức hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử xem xét quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 109/2015/QH 13 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2016/NQ- HĐTP ngày 30/6/2016 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015/QH 13; Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 hướng dẫn một số quy định có lợi cho người phạm tội theo Bộ luật hình sự năm 2015 để áp dụng mức hình phạt phù hợp để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, kinh tế khó khăn và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô BKS 29H6- 500 và 02 gói heroin thu của bị cáo Oai. Quá trình điều tra cơ quan điều tra xác định được chiếc xe mô tô là của anh Nguyễn Đình L ở xã Tân Phú, huyện Q cho O mượn và không biết O dùng xe đi mua ma túy. Do đó, ngày 12/7/2017 công an huyện Q đã trả lại cho anh L; Đối với heroin thu của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Từ nhưng căn cứ nhận định trên Hội đồng xét xử:
QUYẾT ĐỊNH:
1-Tuyên bố bị cáo Lê Văn O phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy;
-Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình
sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn O 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
27/4/2017.
2- Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng
hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được nêm phong. Mặt trước ghi:
Công an thành phố H, đơn vị: Công an huyện Q, tên đối tượng: Lê Văn O, sinh năm 1986, Hộ khẩu thường trú: Yên Q, xã T, huyện Q, Thành phố H, ngày niêm phong 27/4/2017, mặt sau có chữ ký của đối tượng Lê Văn O và giám định viên.( hiện vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Q theo biên bản giao vật chứng, tài sản số: 38/2017/THA ngày 19/7/2017).
3- Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo O phải nộp
200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
4 - Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231; Khoản 1 Điều 234 Bộ luật tố tụng
hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND TP. Hà Nội; - Công an;VKSND huyện Quốc Oai; - Chi cục THADS huyện Quốc Oai; - Sở tư pháp TP.Hà Nội - Bị cáo; Người bị hại; Lưu: Hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( đã ký) Kiều Văn Thành |