vanban.org

Bản án 479/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là VKSND khu vực 4-Đồng Nai).

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là TAND khu vực 4-Đồng Nai). Xử phạt: Bị cáo Võ Thành H 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 28/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thành H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là VKSND khu vực 4-Đồng Nai).
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 479/2025/HS-PT
Ngày: 27-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

Bà Phan Thị Thu Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hòa – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 196/2025/TLPT-HS, ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Võ Thành H do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là VKSND khu vực 4-Đồng Nai) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là TAND khu vực 4-Đồng Nai).

- Bị cáo bị kháng nghị:

Võ Thành H (tên gọi khác: T); Giới tính: Nam.

Sinh ngày 22/5/1971 tại tỉnh Ninh Thuận.

Số CCCD: 058071004159 ngày 05/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Nơi cư trú: Số nhà B, đường C, khu phố A, phường X, thành phố L (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai.

Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Con ông: Võ K, sinh năm 1945 và bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1949.

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.

Vợ: Trịnh Xuân T, sinh năm 1974 (đã ly hôn); Có 04 con: lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2006.

Tiền án: Ngày 06/7/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại bản án số 100/2023/HS-ST. Ngày 17/6/2024 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 24/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng tại Quyết định số 35/2020/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 03/5/2022.

- Ngày 22/11/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại bản án số 489/HSST. Ngày 01/02/2005 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ (có mặt).

Ngoài ra, còn có bị cáo Lê Thị Huỳnh A nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Võ Thành H và Lê Thị Huỳnh A là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, Võ Thành H nhiều lần bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. H vừa chấp hành xong án phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” về lại địa phương vào ngày 17/6/2024, lại tiếp tục sử dụng ma túy. Hình thức và loại ma túy sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine). Để có ma túy sử dụng, Võ Thành H và Lê Thị Huỳnh A thường mua ma túy của những đối tượng không rõ nhân thân lai lịch để mang về sử dụng dần.

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/10/2024, Lê Thị Huỳnh A liên lạc với 01 người tên H1 (không rõ nhân thân lai lịch) qua số điện thoại 0913163207 để mua 8.500.000 đồng ma túy đá, H1 đồng ý và hẹn Huỳnh A đến đường L thuộc phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai để giao 01 gói ma túy đá. Sau đó, Anh mang về nhà tại phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cất giấu và sử dụng.

Đến 19 giờ ngày 28/10/2024, Lê Thị Huỳnh A lấy gói ma túy trên cất giấu trong người và đến nhà của Võ Thành H tại số nhà B, đường C, khu phố D, phường X (nay là khu phố A, phường X), thành phố L chơi. Sau đó, Lê Thị Huỳnh A và Võ Thành H vào phòng ngủ của H nói chuyện, ngồi được 01 lúc thì Công an thành phố L vào kiểm tra hành chính, thấy vậy Lê Thị Huỳnh A liền lấy gói ma túy trong người ra cất dưới nệm để trên giường sát vị trí mình ngồi. Công an thành phố L tiến hành kiểm tra phòng ngủ nơi Võ Thành H và Lê Thị Huỳnh A ngồi thì phát hiện 01 gói ma túy dưới nệm phía cuối giường sát vị trí Lê Thị Huỳnh A ngồi, 01 gói ny lông chứa ma túy trên nắp hộp sắt tròn màu đỏ và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong còn dính 01 ít tinh thể màu trắng để phía trên đầu giường ngủ của Võ Thành H nên đã tiến hành niêm phong ma túy theo quy định và đưa H và Huỳnh A về làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Lê Thị Huỳnh A thừa nhận gói ma túy thu giữ dưới nệm phía cuối giường ngay vị trí ngồi là của Huỳnh A mang đến, số ma túy còn lại cùng dụng cụ sử dụng là của H. Võ Thành H thừa nhận dụng cụ sử dụng ma túy là của mình, còn gói ma túy thu giữ trên nắp hộp sắt đầu giương không biết của ai.

2. Về kết luận giám định:

- Tại bản kết luận giám định số 6667/KL-KTHS ngày 04/11/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M1 có chữ ký của Lê Thị Huỳnh A (thu giữ dưới nệm cuối giường) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 4,1331 gam, loại: Methamphetamine.

Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M2 có chữ ký của Võ Thành H và Lê Thị Huỳnh A (thu giữ trên hộp sắt đầu giường) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0, 3472 gam, loại: Methamphetamine.

01 nỏ thủy tinh chứa tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, dạng vết.

- Tại bản kết luận giám định số 6667/KL-KTHS ngày 04/12/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận kết luận:

Phân tích gen (AND) từ bịch ny lông màu trắng ký hiệu M1 và nỏ thủy tinh ký hiệu M3 được các kiểu gen lẫn, không đủ cơ sở truy nguyên cá thể.

Phân tích gen từ bịch ny lông màu trắng ký hiệu M2 được kiểu gen trùng với kiểu gen của Võ Thành H.

3. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Võ Thành H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tính từ ngày 28/10/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Lê Thị Huỳnh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù và tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

4. Về kháng nghị của Viện kiểm sát:

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/KN-VKSLK ngày 12 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là VKSND khu vực 4-Đồng Nai) đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là TAND khu vực 4-Đồng Nai), tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo Võ Thành H.

5. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm kháng nghị theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/KN-VKSLK ngày 12 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh (nay là VKSND khu vực 4-Đồng Nai) và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng mức hình phạt đối với bị cáo Võ Thành H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là VKSND khu vực 4-Đồng Nai) làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thành H đã khai nhận vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 28/10/2024, tại số nhà B đường C, khu phố A, phường X, (cũ là khu phố D, phường X) thành phố L, Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang Lê Thị Huỳnh A đang tàng trữ 4,1331 gam, loại Methamphetamine và Võ Thanh H2 đang tàng trữ 0,3472 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo Võ Thành H đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là VKSND khu vực 4-Đồng Nai):

Viện kiểm sát cho rằng mức án dành cho bị cáo H là nhẹ, không phù hợp với tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo.

Xét thấy về tình tiết tăng nặng và nhân thân của bị cáo: Bị cáo H có nhân thân xấu (01 lần bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, 01 lần bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma tuý) và có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (vừa chấp hành xong ngày 17/6/2024) thì lại tiếp tục có hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý ngày 26/10/2024 trong vụ án này nên bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng tại điểm h (Tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phần nhận định của bản án sơ thẩm thể hiện bị cáo được hưởng tình tiết gảim nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhưng tại phần quyết định của bản án không áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là thiếu sót.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, thấy rằng Toà án cấp sơ thẩm quyết định mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù dành cho bị cáo H là nhẹ, không phù hợp, không có tính răn đe đối với bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm về áp dụng pháp luật và mức hình phạt, tăng mức hình phạt của bị cáo H từ 01 năm 06 tháng tù lên 02 năm tù.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là VKSND khu vực 4-Đồng Nai).

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (nay là TAND khu vực 4-Đồng Nai).

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Võ Thành H 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 28/10/2024.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ