- Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Thành S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Văn Thành S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 479/2020/HS-ST Ngày: 07/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Thìn
- Bà Phạm Thị Hải Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 438/2020/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2020. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 496/2020/QĐXXST-HS ngày 21/8/2020 đối với bị cáo:
Văn Thành S (tên gọi khác: không), sinh năm 1971, tại tỉnh HY; Nơi cư trú: Số 05 đường Điện Biên, phường LL, thành phố HY, tỉnh HY; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Văn Thành C, sinh năm 1932 (chết); Mẹ: Bá Thị T, sinh năm 1937 (chết); Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/11/1994, bị TAND tỉnh Hải Hưng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” theo bản án hình sự phúc thẩm số 160; ngày 02/11/1998, bị TAND thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân” theo bản án hình sự sơ thẩm số 43; ngày 30/8/2012, bị TAND thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 36 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 228/2012/HSST (Bị cáo đã chấp hành xong các bản án); Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/02/2020, chuyển tạm giam ngày 19/02/2020 theo quyết định số 206 ngày 18/02/2020 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Biên Hòa; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa; Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Văn Thành S là người sử dụng trái phép chất ma túy (Heroin). Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/02/2020, S đi xe buýt đến khu vực Bến xe Miền Đông thuộc quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy (Heroin) với giá 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), sau đó S mang gói ma túy mua được về phòng trọ của S tại Phòng số 6, nhà số 45B, khu phố Bình Hóa, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tại đây S lấy gói ma túy mua được ra sử dụng một phần và phần còn lại phân ra được 21 gói nhỏ và cất giấu để lúc khác sử dụng.
Vào khoảng 11 giờ ngày 10/02/2020, tại phòng trọ của S, S đang cất giấu 05 gói ma túy (Heroin) trong túi áo phía trước bên trái S đang mặc, 16 gói ma túy (Heroin) để dưới gối trên tấm nệm của S thì bị Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Biên Hòa phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra, Văn Thành Sơn đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số IMEI: 353415087807544 và 1.000.000đ (Một triệu đồng) của Văn Thành Sơn không liên quan đến tội phạm.
Tại Bản kết luận giám định số: 263/KLGĐ-PC09 ngày 12/02/2020 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an Đồng Nai đã kết luận như sau:
- “Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1505gam, loại Heroin (Heroine)”.
- “Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4937gam, loại Heroin (Heroine)”.
Đối với người đàn ông (không rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho S, Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố Biên Hòa tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Cáo trạng số: 458/CT-VKSBH ngày 05/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Văn Thành S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Văn thành S và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Văn Thành S mức án từ 20 (Hai mươi) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng ma túy (Heroin) còn lại sau giám định theo quy định.
+ Trả lại cho bị cáo Văn Thành S 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số IMEI: 353415087807544 và số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) không liên quan đến tội phạm.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo Văn Thành S nói lời sau cùng: Kính xin HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị cáo Văn Thành S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Văn Thành S là người nghiện ma túy. Vào khoảng 11 giờ ngày 10/02/2020, tại phòng số 6, nhà số 45B, khu phố Bình Hóa, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, S đang cất giấu 05 gói ma túy (Heroin) trong túi áo phía trước bên trái S đang mặc, 16 gói ma túy (Heroin) để dưới gối trên tấm nệm của S thì bị Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Biên Hòa phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại Bản kết luận giám định số: 263/KLGĐ-PC09 ngày 12/02/2020 của Giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an Đồng Nai đã kết luận như sau:
- Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1505gam, loại Heroin (Heroine).
- Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,4937gam, loại Heroin (Heroine).
Hành vi nêu trên của bị cáo Văn Thành S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
Ma túy là hiểm họa của con người, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật, mại dâm… Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về quản lý các chất cấm, gây mất an ninh, trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định trong 01 gói niêm phong số: 263/KLGĐ ngày 17/02/2020.
- Trả lại cho bị cáo Văn Thành S 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số IMEI: 353415087807544 và số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Văn Thành S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
. Xét quan điểm của đại diện VKSND thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 45, 106, 135, 136, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Văn Thành S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Văn Thành S 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 10/02/2020.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định trong 01 (Một) gói niêm phong số: 263/KLGĐ ngày 17/02/2020.
- Trả lại cho bị cáo Văn Thành Sơn 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số IMEI: 353415087807544 và số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/8/2020 và Biên lai số 000123 ngày 13/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
3. Về án phí: Bị cáo Văn Thành S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Biên Hòa; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Biên Hòa; - VKSND thành phố Biên Hòa; - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Phạm Tuân |