- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 478/2021/HS-ST Ngày: 23/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh – CB hưu trí.
Ông Đinh Công Hiệp – Liên đoàn Lao động thành phố B.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP.B, tỉnh Đồng Nai tham
gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Linh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 398/2021/HSST ngày 07/07/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 382/2021/QĐXXST-HS ngày 09/7/2021; Thông báo mở lại phiên tòa sơ thẩm số 1127/TB_TA ngày 01 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Kim H, sinh năm 1996 tại Đồng Nai.
Tên gọi khác: Không.
Giới tính: Nam.
Nơi đăng ký HKTT: 78, tổ 8, khu phố 3, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: Lớp 12/12. - Nghề nghiệp: Không.
Họ tên cha: Nguyễn Kim T, sinh năm 1975 (còn sống).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1979 (còn sống).
Gia đình có 03 chị em, bị cáo là người con lớn nhất trong gia đình.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Ngày 16/7/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tiền sự: Không.
Ngày 25/01/2021, bị cáp bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
(Bị cáo có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Kim H là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 24/01/2021, H đi đến khu vực Ngã ba Tân Phong thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua 02 gói ma túy của 01 đối tượng tên Su (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, Hùng đem 02 gói ma túy về phòng trọ tại khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai sử dụng 01 gói ma túy, còn 01 gói H cất giấu vào nón bảo hiểm của H. Đến 03 giờ 30 phút ngày 25/02/2021, khi Trần Văn C, sinh năm 1993; HKTT: Ấp 3, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 60B1-678.31 chở H đi đến đoạn đường thuộc tổ 7, khu phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói nylon có chứa tinh thể màu trắng trong nón bảo hiểm của H, H khai nhận đó là ma túy. Sau đó, Công an phường T chuyển hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon được hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng của Nguyễn Kim H, được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Kim H.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 60B1-678.31, số khung RLHJF2707BY-410691.
Tại Kết luận giám định số 186/KLGĐ-PC09 ngày 27/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đã kết luận:
“Mẫu tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 (một) gói nylon hàn kín hai đầu là ma túy, có khối lượng 0,17675 gam, loại Methamphetamine”.
Tại bản cáo trạng số 418/CT-VKSBH ngày 02/7/2021, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Kim H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Kim H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 14 tháng tù giam đến 18 tháng tù giam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị cáo Nguyễn Kim H đã khai nhận: Vào lúc 03 giờ 30 phút ngày 25/01/2021, tại Tổ 7, khu phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,17675 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Kim H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố Biên Hòa đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại thời điểm phạm tội bị cáo H đang có một tiền án chưa được xóa án tích, nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng hình phạt là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng. Bị cáo là một thanh niên đã trưởng thành, có nhận thức pháp luật, có sức khỏe, có khả năng lao động nhưng đã nhiều lần bị cáo phải trả giá cho sai lầm của mình bằng việc chấp hành hình phạt của Tòa án. Đáng lẽ, bị cáo phải hơn ai hết ý thức được việc phải cố gắng cải tạo, răn đe mình trong việc hành xử trước các ràng buộc và chế tài của pháp luật đối với những người có hành vi vi phạm, nhưng bị cáo đã bất chấp tiếp tục thực hiện dù trước đó đang có một tiền án chưa được xóa án tích. Điều này cho thấy bị cáo là một đối tượng coi thường pháp luật, khó cải tạo giáo dục. Vì vậy, cần thiết xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình phạt đối với bị cáo H, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về phần xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 60B1-678.31, số khung RLHJF2707BY-410691 trong quá trình điều tra chưa xác minh được nguồn gốc, chủ sở hữu hợp pháp nên tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Kim H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với đối tượng tên Su (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Kim H, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Đối với Trần Văn C không biết việc Nguyễn Kim H tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Của là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim H phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim H 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2021.
Biện pháp tư pháp:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 186/KLGĐ - PC09 ngày 28 tháng 01 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai - là số lượng ma túy còn lại sau giám định.
(Vật chứng này được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố B).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Kim H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Kim H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Viện kiểm sát nhân dân TP.B (2);
- Công an TP.B (2);
- Thi hành án hình sự (7);
- Bị cáo (4);
- Lưu hồ sơ vụ án (3).
Nguyễn Trần Nhàn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa (2);
- Công an TP.Biên Hòa (2);
- Thi hành án hình sự (7);
- Bị cáo (4);
- Lưu hồ sơ vụ án (3).
Nguyễn Trần Nhàn
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Thiều Thị Phi Loan Nguyễn Thái Hòa
Nguyễn Trần Nhàn TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ….. giờ ……ngày 23 tháng 11 năm 2021;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Chánh và ông Đinh Công Hiệp.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 398/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 07 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Kim Hùng, sinh năm 1996 tại Đồng Nai.
Tên gọi khác: Không.
Giới tính: Nam.
Nơi đăng ký HKTT: 78, tổ 8, khu phố 3, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: Lớp 12/12. - Nghề nghiệp: Không.
Họ tên cha: Nguyễn Kim Thu, sinh năm 1975 (còn sống).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thanh Tâm, sinh năm 1979 (còn sống).
Gia đình có 03 chị em, bị cáo là người con lớn nhất trong gia đình.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Ngày 16/7/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tiền sự: Không.
Ngày 25/01/2021, bị cáp bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim Hùng phaïm toäi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
3. Về mức hình phạt: Xöû phaït bị cáo Nguyễn Kim Hùng: ………….. năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2021.
4. Về các vấn đề khác:
Biện pháp tư pháp:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 186/KLGĐ - PC09 ngày 28 tháng 01 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai - là số lượng ma túy còn lại sau giám định.
(Vật chứng này được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Kim Hùng phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Nghị án kết thúc vào hồi …. giờ ….. phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Thiều Thị Phi Loan Trần Văn Chánh
Đồng Thị Hồng TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– Số:11/2018/HSST-QĐ
Biên Hòa, ngày 12 tháng 3 năm 2018
QUYẾT ĐỊNH
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(4)
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn Chánh và bà Nguyễn Thị Nhạn
Căn cứ Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ kết quả việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
Xét thấy:
- Tại phiên tòa, người bị hại Bùi Quốc Tuấn và người làm chứng Phạm quốc Cường đều khai khi quay lại hiện trường để gây án bị cáo không đi một mình mà đi cùng hai người khác trên 1 chiếc xe máy. Lời khai này mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra. Mặt khác anh Tuấn và anh Cường cũng như bị cáo đều xác định quá trình điều tra chưa được đối chất với nhau.
- Chiếc xe bị cáo sử dụng làm phương tiên gây án bị cáo khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là đã bán. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa làm rõ thời điềm bán, khu vực bán và người mua cũng như khả năng thu hồi tài sản này cũng như biện pháp xử lý vật chứng. Lý do tại sao có sự chênh lệch lớn giữa giá bán và giá mua. Có hay không việc bị cáo cố ý tẩu tán tài sản. Do đó, cần trả hồ sơ để làm rõ.
QUYẾT ĐỊNH:
Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh năm 1989;
Bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.
Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.
Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:
1. Điều tra xác minh, cho đối chất giữa bị hại, những người làm chứng và bị cáo nhằm làm rõ trong vụ án có đồng phạm hay không?
2. Xác minh làm rõ cũng như có biện pháp xử lý cụ thể đối với chiếc xe mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
| Nơi nhận: - VKS TP.Biên Hòa (kèm hồ sơ vụ án); - Hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |