- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bé Q và anh Đặng Thành L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 478/2018/HNGĐ-ST Ngày: 28-11-2018 V/v tranh chấp ly hôn giữa chị Q và anh L |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn On.
Các Hội thẩm nhân dân dân:
Ông Nguyễn Văn Cư
Bà Trần Thị Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Tấn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 284/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 459/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé Q, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp Phú Điền, xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
- Bị đơn: Anh Đặng Thành L, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Tổ 2, ấp Tân Hậu B2, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 6 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé Q trình bày: Tôi và anh Đặng Thành L tự tìm hiểu và được cha mẹ hai bên đồng ý, tổ chức L cưới vào năm 2011, có đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Long An, thị xã Tân Châu theo quy định của pháp luật. Cuộc sống chung vợ chồng có hạnh phúc được đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn anh L tự ý bỏ nhà đi một thời gian rồi trở về chung sống lại, được một thời gian thì vợ chồng cự cãi rồi anh L bỏ đi rồi trở về chung sống lại, cứ lập đi lập lại nhiều lần và ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Về con chung có 01 con tên Đặng Thành Lộc, sinh ngày 05/12/2011, hiện đang sống với mẹ. Về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ. Tôi yêu cầu xin ly hôn với anh Đặng Thành L, yêu cầu xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh L phải đóng góp nuôi con.
Bị đơn anh Đặng Thành L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật về thủ tục theo quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Đối với các đương sự thì thực hiện đúng theo quy định tại các điều 70- 71- 72- 73 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Bé Q và anh Đặng Thành L tự tìm hiểu và được cha mẹ hai bên đồng ý, tổ chức L cưới vào năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng sống có hạnh phúc được đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn anh L tự ý bỏ nhà đi một thời gian rồi trở về chung sống lại, được một thời gian thì vợ chồng cự cãi rồi anh L bỏ đi rồi trở về chung sống lại, cứ lập đi lập lại nhiều lần và ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Về con chung có 01 con tên Đặng Thành Lộc, sinh ngày 05/12/2011, hiện đang sống với mẹ. Về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ. Chị Q yêu cầu ly hôn với anh L, yêu cầu xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh L phải đóng góp nuôi con. Anh Đặng Thành L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu nhận định vụ án như sau: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bé Q và anh Đặng Thành L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long An, thị xã Tân Châu, theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được xem là hôn nhân hợp pháp
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, phiên tòa tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp “ Ly hôn ” giữa chị Nguyễn Thị Bé Q và anh Đặng Thành L được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thị Bé Q yêu cầu ly hôn với anh Đặng Thành L. Về con chung chị Q yêu cầu được tiếp tục nuôi con tên Đặng Thành Lộc, sinh ngày 05/12/2011, không yêu cầu anh L phải đóng góp nuôi con. Về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ.
Anh Đặng Thành L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Thanh vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được.
Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này. Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý.
- Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Tổ chức đăng ký kết hôn. Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn. Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên.
- Khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
- Khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn.
- Khoản 1 Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xử:
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bé Q và anh Đặng Thành L.
Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Bé Q được tiếp tục nuôi 01 con chung tên Đặng Thành Lộc, sinh ngày 05/12/2011, hiện đang sống với mẹ và chị Q không yêu cầu anh L phải đóng góp nuôi con.
Về chia tài sản: Không có, về nợ chung không có nợ.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bé Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát là có cơ sở xem xét và phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản Quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bé Q và anh Đặng Thành L sau khi Tòa án thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh L nhiều lần để ghi nhận lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến được. Ngày 25/10/2018 Tòa án tiến hành xác minh tình trạng cư trú của anh Đặng Thành L được anh Lê Anh Pháp là Công an viên - Công an xã Long An phụ trách ấp Tân Hậu B2, xã Long An, thị xã Tân Châu cung cấp đương sự Đặng Thành L, sinh năm 1984, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Tân Hậu B2, xã Long An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, hiện nay đương sự Đặng Thành L không có mặt tại địa phương mà đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về địa phương sinh sống. Ngày 25/10/2018 Tòa án tiến hành xác minh bà Nguyễn Thị Bùi, được bà Bùi cung cấp Đặng Thành L là con trai của bà còn Nguyễn Thị Bé Q là vợ của Đặng Thành L và là con dâu của tôi. Việc vợ chồng Q - L ly hôn, tôi được biết như sau: Khi vợ chồng Q - L về sống với gia đình bên vợ tại xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long thì bị gia đình Q coi thường, khinh rẻ, bị Q đuổi đi nên L tự ái và bỏ đi không chung sống với Q từ tháng 6/2018 cho đến nay, có 01 con chung hiện đang sống với mẹ, tài sản chung không có. Hôn nhân của chị Q và anh L đã ly thân một thời gian nhưng anh chị không tự hòa giải để hàn gắn cuộc sống vợ chồng mà để mâu thuẫn diễn biến ngày một gay gắt, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nghĩ nên cho chị Q và anh L ly hôn là phù hợp. Về con chung có 01 con tên Đặng Thành Lộc, sinh ngày 05/12/2011, hiện đang sống với mẹ, chị Q yêu cầu xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh L phải đóng góp nuôi con. Về tài sản chung không có, về nợ chung không có nợ nên Hội đồng không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Nguyễn Thị Bé Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số: 0004821 ngày 18/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu tỉnh An Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 11-14-85-89-92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, khoản 1 Điều 28 khoản 1 Điều 147 khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 điểm Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bé Q và anh Đặng Thành L.
2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Bé Q được tiếp tục nuôi 01 con chung tên Đặng Thành Lộc, sinh ngày 05/12/2011, hiện đang sống với mẹ và chị Q không yêu cầu anh L phải đóng góp nuôi con.
3. Về chia tài sản: Không có.
Về nợ chung không có nợ.
4. Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Nguyễn Thị Bé Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số: 0004821 ngày 18/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND thị xã Tân Châu; - Chi cục THADS thị xã Tân Châu; - Các đương sự; (để thi hành) - UBND xã Long An; - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.Phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Văn On |